Chuyên đề Tốt nghiệp Những giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ giải ngân nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) tại Việt Nam giai đoạn 2001-2005
chương I
cơ sở lý luận chung về nguồn vốn
hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)
I-Những lý luận cơ bản về ODA
1-Khái niệm và đặc điểm của ODA
1.1-Khái niệm
ODA là tên gọi tắt của ba từ tiếng Anh Official Development Assistance
có nghĩa là Hỗ trợ phát triển chính thức hay còn gọi là Viện trợ phát triển
chính thức.
Năm 1972, tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển đã đưa ra định nghĩa
như sau: "ODA là một giao dịch chính thức được thiết lập với mục đích thúc
đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của các nước đang phát triển. Điều kiện tài
chính của giao dịch này có tính chất ưu đãi và thành tố viện trợ không hoàn
lại chiếm ít nhất 25%".
Tại Điều I Quy chế quản lý và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính
thức ban hành ngày 5-8-1977 có nêu khái niệm về ODA như sau :" Hỗ trợ
phát triển chính thức được hiểu là sự hợp tác phát triển giữa nước Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam với một hay nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế, bao
gồm các hình thức sau:
1) Hỗ trợ cán cân thanh toán.
2) Hỗ trợ theo chương trình.
3) Hỗ trợ kỹ thuật.
4) Hỗ trợ theo dự án.
ODA bao gồm ODA không hoàn lại và ODA cho vay ưu đãi có yếu tố
không hoàn lại chiếm ít nhất 25% giá trị khoản vay.
Hỗ trợ phát triển chính thức bao gồm các khoản viện trợ không hoàn lại ,
viện trợ có hoàn lại, hoặc tín dụng ưu đãi của các chính phủ, các tổ chức
thuộc hệ thống Liên Hợp Quốc, các tổ chức tài chính quốc tế dành cho các
nước đang và chậm phát triển.
Nguồn vốn đưa vào các nước đang và chậm phát triển được thực hiện
qua nhiều hình thức:
-Tài trợ phát triển chính thức ( Official Development Finance - ODF ) là
nguồn tài trợ chính thức của chính phủ cho mục tiêu phát triển. Nguồn vốn
này bao gồm ODA và các hình thức ODF khác, ODA chiếm tỷ trọng chủ yếu
trong nguồn ODF.
-Tín dụng thương mại từ các ngân hàng ( Commercial Credit by Bank )
là nguồn vốn chủ yếu nhằm hỗ trợ cho các hoạt động xuất nhập khẩu, thương
mại.
-Đầu tư trực tiếp nước ngoài ( Foreign Direct Invesment - FDI ) là loại
hình kinh doanh mà nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn tự thiết lập cơ sở sản xuất,
kinh doanh cho riêng mình, tự đứng ra làm chủ sở hữu, tự quản lý hoặc thuê
người quản lý (đầu tư 100% vốn ), hoặc góp vốn với một hay nhiều xí nghiệp
của nước sở tại thiết lập cơ sở sản xuất kinh doanh, rồi cùng các đối tác của
mình làm chủ sở hữu và cùng quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này ( xí
nghiệp liên doanh ).
-Viện trợ cho không của các tổ chức phi chính phủ ( Nongovernment
Organisation - NGO ).
-Tín dụng tư nhân: loại vốn này có ưu điểm là hầu như không gắn với
các ràng buộc chính trị - xã hội, song các điều kiện cho vay khắt khe ( thời
hạn hoàn trả vốn ngắn và mức lãi suất cao), vốn được sử dụng chủ yếu cho
các hoạt động xuất nhập khẩu và thường là ngắn hạn. Vốn này cũng được
dùng cho đầu tư phát triển và mang tính dài hạn. Tỷ trọng của vốn dài hạn
trong tổng số có thể tăng lên đáng kể nếu triển vọng tăng trưởng lâu dài, đặc
biệt là tăng trưởng xuất khẩu của nước đi vay là khả quan.
Các dòng vốn quốc tế này có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau. Nếu
một nước kém phát triển không nhận được vốn ODA đủ mức cần thiết để hện
đại hoá các cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, thì cũng khó có thể thu hút được
các nguồn vốn FDI, cũng như vay vốn tín dụng khác để mở rộng kinh doanh.
Nhưng nếu chỉ tìm kiếm các nguồn vốn ODA, mà không tìm cách thu hút các
nguồn vốn FDI và các nguồn vốn tín dụng khác thì chính phủ sẽ không có đủ
thu nhập để trả nợ cho các loại vốn ODA
Tóm tắt nội dung tài liệu: Chuyên đề Tốt nghiệp Những giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ giải ngân nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) tại Việt Nam giai đoạn 2001-2005
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp 1 CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP KHOA KINH TẾ - TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP Đề tài: Những giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ giải ngân nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) tại Việt Nam giai đoạn 2001-2005 Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp 2 lời mở đầu Cùng với đầu tư trực tiếp nước ngoài, hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) hiện nay là nguồn tài chính rất quan trọng đối với Việt Nam trong sự nghiệp phát triển kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Với khoản ODA trị giá 17,5 tỷ USD mà các nhà tài trợ cam kết dành cho Việt Nam và 41% trong số đó đã được giải ngân trong 8 năm qua, ODA đã khẳng định vai trò của nó đối với nền kinh tế Việt Nam. Nguồn ngoại tệ này đóng góp một phần quan trọng để khắc phục tình trạng thiếu vốn và cơ sở hạ tầng, khoa học kỹ thuật thấp kém ở nước ta. Bên cạnh đó, sự gia tăng của nguồn vốn ODA còn giúp Chính phủ Việt Nam trong việc giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc, đặc biệt là trong lĩnh vực y tế và giáo dục cơ bản. Trong quá trình thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA thời gian qua, mức giải ngân thấp luôn luôn là chủ đề thảo luận với nhiều nhà tài trợ song phương và đa phương nhằm tìm ra những nguyên nhân và giải pháp để khắc phục. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có sự tiến bộ đáng kể mà còn xuất hiện xu hướng tốc độ giải ngân chậm lại trong thời gian gần đây. Giải ngân thấp thể hiện sự không hiệu quả trong việc sử dụng nguồn vốn ODA và là một sự lãng phí lớn, trong điều kiện nhu cầu về vốn cho phát triển kinh tế còn rất lớn như hiện nay. Vì những lý do trên, tôi đã chọn đề tài "Những giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ giải ngân nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) tại Việt Nam giai đoạn 2001-2005 " làm đề tài nghiên cứu cho bài Luận văn tốt nghiệp của mình. Mục tiêu của đề tài là trên cơ sở khái quát những vấn đề lý luận về ODA, phân tích thực trạng giải ngân ODA ở Việt Nam trong những năm qua để tìm ra những tồn tại, nguyên nhân và đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy tốc độ giải ngân ODA, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn này. Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp 3 Ngoài phần lời nói đầu và kết luận, bài Chuyên đề thực tập tốt nghiệp này được bố cục như sau: Chương I : Cơ sở lý luận chung về nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và giải ngân vốn ODA. Chương II : Đánh giá tổng quan về tình hình giải ngân nguồn vốn ODA tại Việt Nam giai đoạn 1993-1999. Chương III : Những giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ giải ngân ODA giai đoạn 2001-2005. Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp 4 chương I cơ sở lý luận chung về nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) I-Những lý luận cơ bản về ODA 1-Khái niệm và đặc điểm của ODA 1.1-Khái niệm ODA là tên gọi tắt của ba từ tiếng Anh Official Development Assistance có nghĩa là Hỗ trợ phát triển chính thức hay còn gọi là Viện trợ phát triển chính thức. Năm 1972, tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển đã đưa ra định nghĩa như sau: "ODA là một giao dịch chính thức được thiết lập với mục đích thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của các nước đang phát triển. Điều kiện tài chính của giao dịch này có tính chất ưu đãi và thành tố viện trợ không hoàn lại chiếm ít nhất 25%". Tại Điều I Quy chế quản lý và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ban hành ngày 5-8-1977 có nêu khái niệm về ODA như sau :" Hỗ trợ phát triển chính thức được hiểu là sự hợp tác phát triển giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với một hay nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế, bao gồm các hình thức sau: 1) Hỗ trợ cán cân thanh toán. 2) Hỗ trợ theo chương trình. 3) Hỗ trợ kỹ thuật. 4) Hỗ trợ theo dự án. ODA bao gồm ODA không hoàn lại và ODA cho vay ưu đãi có yếu tố không hoàn lại chiếm ít nhất 25% giá trị khoản vay. Hỗ trợ phát triển chính thức bao gồm các khoản viện trợ không hoàn lại , viện trợ có hoàn lại, hoặc tín dụng ưu đãi của các chính phủ, các tổ chức thuộc hệ thống Liên Hợp Quốc, các tổ chức tài chính quốc tế dành cho các nước đang và chậm phát triển. Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp 5 Nguồn vốn đưa vào các nước đang và chậm phát triển được thực hiện qua nhiều hình thức: -Tài trợ phát triển chính thức ( Official Development Finance - ODF ) là nguồn tài trợ chính thức của chính phủ cho mục tiêu phát triển. Nguồn vốn này bao gồm ODA và các hình thức ODF khác, ODA chiếm tỷ trọng chủ yếu trong nguồn ODF. -Tín dụng thương mại từ các ngân hàng ( Commercial Credit by Bank ) là nguồn vốn chủ yếu nhằm hỗ trợ cho các hoạt động xuất nhập khẩu, thương mại... -Đầu tư trực tiếp nước ngoài ( Foreign Direct Invesment - FDI ) là loại hình kinh doanh mà nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn tự thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh cho riêng mình, tự đứng ra làm chủ sở hữu, tự quản lý hoặc thuê người quản lý (đầu tư 100% vốn ), hoặc góp vốn với một hay nhiều xí nghiệp của nước sở tại thiết lập cơ sở sản xuất kinh doanh, rồi cùng các đối tác của mình làm chủ sở hữu và cùng quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này ( xí nghiệp liên doanh ). -Viện trợ cho không của các tổ chức phi chính phủ ( Nongovernment Organisation - NGO ). -Tín dụng tư nhân: loại vốn này có ưu điểm là hầu như không gắn với các ràng buộc chính trị - xã hội, song các điều kiện cho vay khắt khe ( thời hạn hoàn trả vốn ngắn và mức lãi suất cao), vốn được sử dụng chủ yếu cho các hoạt động xuất nhập khẩu và thường là ngắn hạn. Vốn này cũng được dùng cho đầu tư phát triển và mang tính dài hạn. Tỷ trọng của vốn dài hạn trong tổng số có thể tăng lên đáng kể nếu triển vọng tăng trưởng lâu dài, đặc biệt là tăng trưởng xuất khẩu của nước đi vay là khả quan. Các dòng vốn quốc tế này có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau. Nếu một nước kém phát triển không nhận được vốn ODA đủ mức cần thiết để hện đại hoá các cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, thì cũng khó có thể thu hút được Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp 6 các nguồn vốn FDI, cũng như vay vốn tín dụng khác để mở rộng kinh doanh. Nhưng nếu chỉ tìm kiếm các nguồn vốn ODA, mà không tìm cách thu hút các nguồn vốn FDI và các nguồn vốn tín dụng khác thì chính phủ sẽ không có đủ thu nhập để trả nợ cho các loại vốn ODA. 1.2-Đặc điểm của nguồn vốn ODA: -ODA là một giao dịch quốc tế, thể hiện ở chỗ hai bên tham gia giao dịch này không có cùng quốc tịch. Bên cung cấp thường là các nước phát triển hay các tổ chức phi chính phủ. Bên tiếp nhận thường là các nước đang phát triển hay các nước gặp khó khăn về nguồn lực trong việc giải quyết các vấn đề xã hội, kinh tế hay môi trường. -ODA thường được thực hiện qua hai kênh giao dịch là kênh song phương và kênh đa phương. Kênh song phương, quốc gia tài trợ cung cấp ODA trực tiếp cho chính phủ quốc gia được tài trợ. Kênh đa phương , các tổ chức quốc tế hoạt động nhờ các khoản đóng góp của nhiều nước thành viên cung cấp ODA cho quốc gia được viện trợ. Đối với các nước thành viên thì đây là cách cung cấp ODA gián tiếp. -ODA là một giao dịch chính thức. Tính chính thức của nó được thể hiện ở chỗ giá trị của nguồn ODA là bao nhiêu, mục đích sử dụng là gì phải được sự chấp thuận và phê chuẩn của chính phủ quốc gia tiếp nhận. Sự đồng ý tiếp nhận đó được thể hiện bằng văn bản, hiệp định, điều ước quốc tế ký kết với nhà tài trợ. -ODA được cung cấp với mục đích rõ ràng. Mục đích của việc cung cấp ODA là nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội của các nước nghèo. Đôi lúc ODA cũng được sử dụng để hỗ trợ các nước gặp hoàn cảnh đặc biệt khó khăn như khủng hoảng kinh tế, thiên tai, dịch bệnh...Do đó, có lúc các nước phát triển cũng được nhận ODA. Nhưng không phải lúc nào mục đích này cũng được đặt lên hàng đầu, nhiều khi các nhà tài trợ thường áp đặt điều kiện của mình nhằm thực hiện những toan tính khác. -ODA có thể được các nhà tài trợ cung cấp dưới dạng tài chính, cũng có Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp 7 khi là hiện vật. Hiện nay, ODA có ba hình thức cơ bản là viện trợ không hoàn lại (Ggant Aid), vốn vay ưu đãi ( Loans Aid ) và hình thức hỗn hợp. 2-Phân loại ODA 2.1-Phân loại theo tính chất -ODA không hoàn lại : Đây là nguồn vốn ODA mà nhà tài trợ cấp cho các nước nghèo không đòi hỏi phải trả lại. Cũng có một số nước khác được nhận loại ODA này khi gặp phải các vấn đề nghiêm trọng như thiên tai, dịch bệnh... Đối với các nước đang phát triển, nguồn vốn này thường được cấp dưới dạng các dự án hỗ trợ kỹ thuật, các chương trình xã hội hoặc hỗ trợ cho công tác chuẩn bị dự án. ODA không hoàn lại thường là các khoản tiền nhưng cũng có khi là hàng hoá, ví dụ như lương thực, thuốc men hay một số đồ dùng thiết yếu. ODA không hoàn lại thường ưu tiên và cung cấp thường xuyên cho lĩnh vực giáo dục, y tế. Các nước Châu Âu hiện nay dành một phần khá lớn ODA không hoàn lại cho vấn đề bảo vệ môi trường, đặc biệt là bảo vệ rừng và các loài thú quý. -ODA vốn vay ưu đãi : đây là khoản tài chính mà chính phủ nước nhận phải trả nước cho vay, chỉ có điều đây là khoản vay ưu đãi. Tính ưu đãi của nó được thể hiện ở mức lãi suất thấp hơn lãi suất thương mại vào thời điểm cho vay, thời gian vay kéo dài, có thể có thời gian ân hạn. Trong thời gian ân hạn, nhà tài trợ không tính lãi hoặc nước đi vay được tính một mức lãi suất đặc biệt. Loại ODA này thường được nước tiếp nhận đầu tư vào các dự án cơ sở hạ tầng xã hội như xây dựng đường xá, cầu cảng, nhà máy...Muốn được nhà tài trợ đồng ý cung cấp, nước sở tại phải đệ trình các văn bản dự án lên các cơ quan có thẩm quyền của chính phủ nước tài trợ. Sau khi xem xét khả thi và tính hiệu quả của dự án, cơ quan này sẽ đệ trình lên chính phủ để phê duyệt. Loại ODA này chiếm phần lớn khối lượng ODA trên thế giới hiện nay. -Hình thức hỗn hợp : ODA theo hình thức này bao gồm một phần là Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp 8 ODA không hoàn lại và một phần là ODA vốn vay ưu đãi. Đây là loại ODA được áp dụng phổ biến trong thời gian gần đây. Loại ODA này được áp dụng nhằm mục đích nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn này. 2.2-Phân loại theo mục đích: -Hỗ trợ cơ bản: là những nguồn lực được cung cấp để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội và môi trường. đây thường là những khoản cho vay ưu đãi. -Hỗ trợ kỹ thuật : là những nguồn lực dành cho chuyển giao tri thức, công nghệ, xây dựng năng lực, tiến hành nghiên cứu cơ bản hay nghiên cứu tiền đầu tư phát triển thể chế và nguồn nhân lực...Loại hỗ trợ này chủ yếu là viện trợ không hoàn lại. 2.3-Phân loại theo điều kiện : -ODA không ràng buộc : Là việc sử dụng nguồn tài trợ không bị ràng buộc bởi nguồn sử dụng hay mục đích sử dụng. -ODA có ràng buộc : +Ràng buộc bởi nguồn sử dụng: Có nghĩa là nguồn ODA được cung cấp dành để mua sắm hàng hoá, trang thiết bị hay dịch vụ chỉ giới hạn cho một số công ty do nước tài trợ sở hữu hoặc kiểm soát ( đối với viện trợ song phương ), hoặc công ty của các nước thành viên (đối với viện trợ đa phương). +Ràng buộc bởi mục đích sử dụng: Nghĩa là nước nhận viện trợ chỉ được cung cấp nguồn vốn ODA với điều kiện là phải sử dụng nguồn ... g và các gói thầu tư vấn dưới 500 triệu đồng được áp dụng hình thức chỉ định thầu, sự thay đổi này cũng tạo ra sự thông thoáng hơn trong các văn bản pháp quy về quy chế đấu thầu của Việt Nam. 5-Chính sách và công tác đền bù, giải phóng mặt bằng Dưới đây là một số nội dung chủ yếu cần sớm được sửa đổi, bổ sung: (1) Cần làm rõ hơn những điều kiện để được đền bù thiệt hại về đất, nhất là các trường hợp đất sử dụng ổn định trước ngày 8/1/1998. Cần có quy định rõ thời điểm sử dụng đất để đảm bảo không vi phạm quy hoạch của cấp có thẩm quyền phê duyệt và đã công bố hoặc không vi phạm hành lang bảo vệ công trình. Không lấn chiếm đất trái pháp luật. Đồng thời có quy định rõ ràng về thời điểm xác nhận của UBND xã, phường, thị trấn cho người sử dụng đất có giấy tờ mua bán, chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Những quy định này sẽ theo hướng thừa nhận thực tế sử dụng đất qua các giai đoạn khác nhau: cải cách ruộng đất, cải tạo công thương nghiệp, cải tạo nông nghiệp... (2) Có quy định cụ thể về mức đất ở được đền bù thiệt hại. Đây là vấn đề Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp 67 hệ trọng và có nhiều ý kiến khác nhau, còn nhiều khiếu kiện từ nhân dân, còn nhiều ý kiến từ chính quyền các cấp. (3) Đối với việc tính giá đất đền bù, nên bỏ hệ số k và thực hiện việc tính giá đất đền bù phù hợp với khả năng sinh lời hoặc chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại địa phương. Giá tính đất đền bù do UBND tỉnh quyết định để đảm bảo vai trò đại diện quyền sở hữu toàn dân về đất đai. Tuy nhiên, cần cho phép UBND tỉnh dựa trên quy định của Chính phủ về giá đất khi quy định đó đã phù hợp với khả năng sinh lợi hoặc giá chuyển nhượng thực tế của đất đai để làm giá đất tính đền bù thiệt hại ở địa phương để giảm công việc cho địa phương. (4) Đối với việc đền bù thiệt hại về tài sản, cần có quy định thống nhất với Nghị định 22/1998/NĐ-CP. Đó là đền bù 100% giá xây dựng đối với nhà cấp bốn vì loại nhà này chủ yếu là của các đối tượng nghèo nên cần được ưu tiên để họ có thể tái tạo lại ngôi nhà mới với tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương. Đồng thời, phải có quy định rõ về việc đền bù theo mức thiệt hại thực tế cho nhà từ cấp ba trở lên để đảm bảo cho mức đền bù phù hợp với những thiệt hại mà người có đất bị thu hồi. (5) Cần đưa một số nội dung cơ bản của chính sách tái định cư vào Nghị định bao gồm các quy định đã có của Nghị định 22/1998/NĐ-CP và bổ sung thêm những quy định về: Quyền và nghĩa vụ của người bị thu hồi đất phải di chuyển đến nơi ở mới; Điều kiện bắt buộc về cơ sơ hạ tầng, nhất là trường học và cơ sở khám chữa bệnh tại khu tái định cư và các công trình phúc lợi khác phục vụ đời sống nhân dân; Công khai phương án bố trí đất ở, nhà ở tại nơi tái định cư nhằm phát huy tinh thần dân chủ tại cơ sở và tránh sự áp đặt từ phía Nhà nước; Đề ra nguyên tắc bố trí nhà ở tại nơi tái định cư đối với nhà nhiều tầng, nhiều căn hộ để làm căn cứ thực hiện. (6)Cần bổ sung một số nội dung cụ thể về hội đồng đền bù và hội đồng thẩm định nhằm xử lý những vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện, cụ Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp 68 thể như sau: -Nâng cao vai trò của chủ dự án trong việc lập, trình duyệt và thực hiện phương án đền bù, giải phóng mặt bằng. Đối với dự án phải thành lập hội đồng đền bù thiệt hại, giải phóng mặt bằng cấp tỉnh thì lãnh đạo sở chủ quản của dự án phải là phó chủ tịch thường trực để trực tiếp chỉ đạo chủ dự án trong việc lập và thực hiện phương án đền bù, giải phóng mặt bằng. -Bổ sung những quy định cụ thể về nguyên tắc làm việc của hội đồng cũng như trách nhiệm của một số thành viên trong hội đồng đền bù, giải phóng mặt bằng như chủ tịch hội đồng, chủ dự án, đại diện của những người bị thu hồi đất. -Có quy định cụ thể về nội dung thẩm định cũng như trách nhiệm của hội đồng thẩm định cấp tỉnh trong việc đảm bảo thời gian thẩm định nhằm đẩy nhanh tiến độ trình duyệt và thực hiện phương án đền bù cũng như trách nhiệm cụ thể của từng thành viên hội đồng. -Có quy định cụ thể về nội dung thẩm định cũng như trách nhiệm của hội đồng thẩm định cấp tỉnh trong việc đảm bảo thời gian thẩm định nhằm đẩy nhanh tiến độ trình duyệt và thực hiện phương án đền bù cũng như trách nhiệm cụ thể của từng thành viên hội đồng. 6-Chuẩn bị tốt vốn đối ứng Vốn đối ứng là một phần tài chính quan trọng và nhiều khi là điều kiện cung cấp vốn ODA của các nhà tài trợ. Vốn đối ứng có thể hiểu là phần đóng góp tài chính của phía Việt Nam trong các dự án sử dụng nguồn vốn ODA. Nhìn chung, các nhà tài trợ không bao giờ cung cấp toàn bộ số vốn cho các chương trình, dự án. Tuy nhiên, việc quy định lượng vốn đối ứng và tiến trình giải ngân không cố định một cách cứng nhắc mà tuỳ thuộc vào công tác đàm phán giữa hai bên. Chuẩn bị tốt vốn đối ứng là một khâu quan trọng trong tiến trình thúc đẩy tốc độ giải ngân. Các nhà tài trợ bao giờ cũng đòi hỏi một khoản vốn đối Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp 69 ứng của phía Việt Nam nhằm bảo đảm tính hiệu quả của việc sử dụng nguồn vốn ODA mà họ cung cấp. Điều này gây khó khăn cho việc giải ngân, nhưng lợi ích mà nó mang lại là rất lớn và về lâu dài, thể hiện thiên chí của các nhà tài trợ dành cho Việt Nam. Hiện nay, ngoài các dự án nhóm A được Chính phủ quan tâm giải quyết, địa phương phải tự cân đối nguồn vốn đối ứng hàng năm. Điều này làm cho một số tỉnh, thành phố lúng túng bởi phần vốn được giao phải cân đối nằm ngoài khả năng của họ. Vì vậy, Chính phủ cần có sự chỉ đạo về hướng giải quyết cho các tỉnh, thành phố gặp khó khăn. Về phía địa phương, cần thành lập Quỹ phát triển và có kế hoạch chi tiết hàng năm về cấp và quản lý tốt nguồn vốn đối ứng cho các dự án ODA đã được phân cấp quản lý trực tiếp. 7-Thủ tục giải ngân cho các dự án Tiếp tục cải thiện thủ tục và trình tự giải ngân cho các dự án ODA đã quy định trong Nghị định 87/CP sao cho phù hợp với thông lệ quốc tế là trong vòng 56 ngày. Hiện nay trình tự và thủ tục thanh toán còn rườm rà, tốn nhiều thời gian. Đã có một số nhà thầu yêu cầu chủ dự án thanh toán trả chậm, điều này sẽ gây khó khăn lớn cho chủ dự án và thiệt hại cho Nhà nước. Đối với một số dự án do phải chờ phê duyệt bổ sung giá trị hợp đồng nên một số khối lượng đã hoàn thành không được giải ngân gây khó khăn cho nhà thầu. Ban hành chế độ, chính sách đặc thù riêng về thủ tục và trình tự giải ngân để đặc biệt đối xử với một số dự án gặp nhiều khó khăn song vẫn phải đảm bảo tính công bằng và minh bạch. Hiện nay, các quy định về thủ tục và trình tự giải ngân vẫn mang tính chung chung, chưa lường trước được những khó khăn của chủ đầu tư và Ban quản lý dự án. Rà soát lại các thủ tục tài chính trong nước, đặc biệt là thủ tục rút vốn nhằm cải tiến thủ tục rút vốn theo hướng giảm phiền hà trong quá trình này. Quy định về việc mở một tài khoản riêng phục vụ công tác lập đề cương Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp 70 và xây dựng báo cáo tiền khả thi, báo cáo khả thi cho dự án, vì hiện nay nguồn kinh phí này hầu như không được cấp, ảnh hưởng rất nhiều đến tiến độ giải ngân nguồn vốn ODA. 8-Phát triển nguồn nhân lực cho các dự án ODA, xây dựng quy chuẩn, tiến tới chuyên nghiệp hoá các Ban QLDA Trong những năm tới đây, việc nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ dự án là một trong những việc cần làm ngay. Chúng ta có thể mời các chuyên gia trong và ngoài nước tới đào tạo, tập huấn công việc của dự án cho cán bộ dưới hình thức đào tạo ngắn ngày theo kiểu tập trung hoặc đào tạo ngay tại cơ sở làm việc đối với một số nghiệp vụ đặc thù của dự án. Về lâu dài, cần chuẩn hoá trình độ cán bộ thực hiện dự án phải có trình độ đại học trở lên và thông thạo ngoại ngữ để có thể hoàn thành nhanh chóng, chính xác các công việc của dự án. Song song với quá trình sửa đổi, bổ sung các quy định mang tính pháp quy trong lĩnh vực quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA, việc xây dựng, chuẩn hoá các Ban QLDA sử dụng vốn ODA cũng cần phải được coi trọng. Để hoạt động hiệu quả, các Ban QLDA cần phải được trang bị những trang thiết bị văn phòng, phương tiện thông tin liên lạc cần thiết. Đối với những dự án có quy mô lớn, số lượng các dự án đơn vị nhiều thì cần duy trì một Ban QLDA trung ương có nhiệm vụ quản lý, giám sát hoạt động của các dự án thành viên. Ngoài ra Ban QLDA trung ương phải chịu trách nhiệm trước các cơ quan quản lý vốn ODA của Chính phủ về tiến độ triển khai thực hiện dự án cũng như những trách nhiệm liên đới khác. Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp 71 kết luận Qua hơn 10 năm đổi mới, Việt Nam đã nhận được sự ủng hộ vô cùng to lớn của bạn bè trên thế giới, một trong những thiện chí đó là nguồn vốn ODA mà các nhà tài trợ đã dành cho Việt Nam. Vốn ODA thực hiện đã góp phần quan trọng vào phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế- xã hội, trong đó một số dự án đã hoàn thành và phát huy tác dụng tích cực phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Các vấn đề xã hội được quan tâm hơn. Các ngành, địa phương được đáp ứng một phần nhu cầu vốn phục vụ đầu tư phát triển. Qua việc thực hiện dự án, nhiều cán bộ Việt Nam được nâng cao trình độ và trưởng thành trông thấy. Bên cạnh những thành công, mức giải ngân thấp trong những năm qua luôn là một thách thức lớn và chưa được giải quyết tốt. Muốn sử dụng nguồn vốn này hiệu quả hơn, chúng ta cần tập trung giải quyết tồn tại này. Được sự tận tình giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn Vũ Cương, cán bộ hướng dẫn Nguyễn Thanh Hương và các cô, các chú ở Văn phòng Thẩm định của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tôi đã hoàn thành " luận văn tốt nghiệp " của mình với mong muốn sẽ góp phần vào việc đề ra các giải pháp nhằm thúc đẩy tiến độ giải ngân nguồn vốn ODA. Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng do sự hiểu biết và năng lực còn hạn chế nên bài viết không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của những ai quan tâm đến vấn đề giải ngân nguồn vốn ODA. Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp 72 danh mục tài liệu tham khảo 1. Tình hình tổng quan về viện trợ phát triển chính thức tại Việt Nam, báo cáo của Chương trình Phát triển LHQ tại Việt Nam (UNDP) xuất bản năm 1999. 2. Đánh giá viện trợ, Báo cáo nghiên cứu chính sách của Ngân hàng Thế giới xuất bản năm 1999. 3. Nguồn vốn ODA và các vùng kinh tế, Vụ Kinh tế đối ngoại- Bộ Kế hoạch và Đầu tư xuất bản năm 2000. 4. Các văn bản pháp luật : - Nghị định 87/CP ban hành ngày 5-8-1997. - Nghị định 22/1998/ NĐ-CP ban hành ngày 24-4-1998. - Nghị định 88/1999/ NĐ-CP ban hành ngày 1-9-1999. - Thông tư số 15-1997/ TT-BKH ban hành ngày 24-10-1997 - Thông tư liên tịch số 81/1998/TTLT-BTC-NHNN ban hành ngày 17-6- 1998. 5. Tạp chí Tin kinh tế - xã hội các số 47,48/1999; 17,18,30,39/2000. 6. Tạp chí Kinh tế và dự báo số 2,10+11/2000. 7. Thời báo Kinh tế Việt Nam số 1/2000. 8. Thời báo Tài chính Việt Nam số 33,134/2000. 9. Tạp chí Kinh tế phát triển số 37,42/2000. 10. Tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 9/2000. 11. Tạp chí Con số và sự kiện số 1+2/2001. Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp 73
File đính kèm:
- chuyen_de_tot_nghiep_nhung_giai_phap_nham_day_nhanh_tien_do.pdf