Tiểu luận Căn bệnh Hà Lan – Lý thuyết và thực tiễn

1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Lịch sử ra đời thuật ngữ “Căn bệnh Hà Lan”

Vào những năm 1960, sau khi phát hiện một mỏ khí gas lớn ở vùng biển phía bắc,

Hà Lan đã tập trung khai thác và xuất khẩu một lượng khí đốt lớn. Điều này đã mang lại

cho nước này nguồn ngoại tệ khổng lồ và nền kinh tế Hà Lan giàu lên nhanh chóng. Tuy

nhiên cũng chính nguồn ngoại tệ ấy đã đẩy giá đồng nột tệ của Hà Lan lên cao làm giảm

xuất khẩu và sức cạnh tranh của các ngành sản xuất khác trong nước. Để chỉ tình trạng

kinh tế đó ở Hà Lan, năm 1977, tạp chí The Economist lần đầu tiên đưa ra thuật ngữ “căn

bệnh hà Lan” .

1.1.2 Định nghĩa thuật ngữ “Căn bệnh Hà Lan”

“Căn bệnh Hà lan” chỉ tình trạng suy giảm mạnh của khu vực sản xuất khi một

quốc gia tập trung khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên để xuất khẩu. Mở rộng ra, thuật

ngữ này cũng dùng để chỉ tình trạng giảm sút của nền kinh tế do có sự gia tăng dòng

ngoại tệ nói chung, cũng như sự tăng nhanh giá tài nguyên thiên nhiên xuất khẩu hay

nguồn viện trợ từ nước ngoài, nguồn vốn FDI

pdf 21 trang chauphong 19/08/2022 22300
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tiểu luận Căn bệnh Hà Lan – Lý thuyết và thực tiễn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Tiểu luận Căn bệnh Hà Lan – Lý thuyết và thực tiễn

Tiểu luận Căn bệnh Hà Lan – Lý thuyết và thực tiễn
 2011 
Căn bệnh Hà Lan – Lý thuyết và 
thực tiễn
Nhóm thực hiện: 
Lê Thị Ly Na K084010050 
Hoàng Thị Dung K084010019 
Nguyễn Đình Hoàng K08403078 
GV hướng dẫn: TS. Nguyễn Chí Hải 
MỤC LỤC 
Chương 1: Cơ sở ý luận về “Căn bệnh Hà Lan”.1 
1.1 Một số khái niệm1 
1.1.1 Lịch sử ra đời thuật ngữ “Căn bệnh Hà Lan” 1 
1.1.2 Định nghĩa thuật ngữ “Căn bệnh Hà Lan” 1 
1.2 Mô hình và tác động “Căn bệnh Hà Lan” .....1 
Chương 2: “Căn bệnh Hà Lan” ở một số nước trên thế giới5 
2.1 Nền kinh tế Nigeria5 
2.2 Nền kinh tế Naru6 
Chương 3: Thực trạng Việt Nam với “Căn bệnh Hà Lan” 7 
3.1 Thực trạng thu hút và sử dụng vốn nước ngoài tại Việt Nam.7 
3.2 Giải pháp.12 
KẾT LUẬN...12 
PHỤ LỤC 
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ “CĂN BỆNH HÀ LAN” 
1.1 Một số khái niệm 
1.1.1 Lịch sử ra đời thuật ngữ “Căn bệnh Hà Lan” 
Vào những năm 1960, sau khi phát hiện một mỏ khí gas lớn ở vùng biển phía bắc, 
Hà Lan đã tập trung khai thác và xuất khẩu một lượng khí đốt lớn. Điều này đã mang lại 
cho nước này nguồn ngoại tệ khổng lồ và nền kinh tế Hà Lan giàu lên nhanh chóng. Tuy 
nhiên cũng chính nguồn ngoại tệ ấy đã đẩy giá đồng nột tệ của Hà Lan lên cao làm giảm 
xuất khẩu và sức cạnh tranh của các ngành sản xuất khác trong nước. Để chỉ tình trạng 
kinh tế đó ở Hà Lan, năm 1977, tạp chí The Economist lần đầu tiên đưa ra thuật ngữ “căn 
bệnh hà Lan” . 
1.1.2 Định nghĩa thuật ngữ “Căn bệnh Hà Lan” 
“Căn bệnh Hà lan” chỉ tình trạng suy giảm mạnh của khu vực sản xuất khi một 
quốc gia tập trung khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên để xuất khẩu. Mở rộng ra, thuật 
ngữ này cũng dùng để chỉ tình trạng giảm sút của nền kinh tế do có sự gia tăng dòng 
ngoại tệ nói chung, cũng như sự tăng nhanh giá tài nguyên thiên nhiên xuất khẩu hay 
nguồn viện trợ từ nước ngoài, nguồn vốn FDI 
1.2. Mô hình và tác động của Căn bệnh Hà Lan 
™ MÔ HÌNH THAM KHẢO 
Mô hình của “Căn bệnh Hà Lan” được ứng dụng từ mô hình nghiên cứu của 
Corden1/Australian hay còn gọi là mô hình EB-IB2, là một mô hình kinh tế vĩ mô được 
sử dụng rất phổ biên nhằm giải thích và giúp đưa ra các chính sách kinh tế giải quyết các 
trục trặc thường xảy ra ở các nước đang phát triển - các nước được xem là có đặc điểm 
của một nền kinh tế nhỏ và mở cửa. Nội dung mô hình như sau: 
Giả sử tất cả các loại hàng hoá và dịch vụ của nền kinh tế được chia thành hai loại: 
Hàng có thể ngoại thương hay hàng ngoại thương (Tradeable goods, ký hiệu là T) và 
hàng không thể ngoại thương hay hàng phi ngoại thương (Non-tradeable goods, ký hiệu 
là N). Hàng ngoại thương là hàng hoá và dịch vụ mà chúng có thể được mua bán trao đổi 
giữa các quốc gia và giá cả của chúng được xác định bởi cung và cầu của thị trường thế 
giới. Hàng phi ngoại thương là những hàng hoá và dịch vụ chỉ có thể tiêu thụ được trong 
nội bộ nền kinh tế, chúng không thể xuất khẩu hoặc nhập khẩu được và giá của loại hàng 
này được xác định bởi giá cả trong nước. 
Trong thực tế rất khó phân biệt một cách chính xác hàng hoá và dịch vụ nào thuộc 
hàng ngoại thương hay hàng phi ngoại thương. Do vậy, cách phân loại này nên được hiểu 
về tính chính xác một cách tương đối. Theo cách phân loại phổ biến nhất và được sử 
dụng ở hầu hết các nước là cách phân loại theo tiêu chuẩn công nghiệp của Liên Hiệp 
Quốc (SIC – The Standard Industrial Classification). Theo SIC, hàng hoá và dịch vụ 
được chia thành 9 nhóm ngành chủ yếu sau: 
1. Nông nghiệp, săn bắn, lâm nghiệp và đánh cá 
2. Khai thác mỏ và khai thác đá 
3. Sản xuất chế biến 
4. Điện, nước và khí đốt 
5. Xây dựng 
6. Mua bán sỉ và lẻ, nhà hàng và khách sạn 
7. Giao thông, kho bãi và thông tin 
8. Tài chính, bảo hiểm, nhà đất và các dịch vụ kinh doanh 
9. Các dịch vụ cá nhân, cộng đồng và xã hội 
1.1. Cân bằng bên trong và Cân bằng bên ngoài: 
Giao điểm của hai đường giới hạn khả năng sản xuất PPF (Production Possibility 
Frontier) và đường đẳng ích của cộng đồng CIC (Community Indifference Curve) là điểm 
cân bằng của mô hình. Tại đây nền kinh tế sản xuất và tiêu thụ T1 hàng có thể ngoại 
thương được và N1 hàng không thể ngoại thương được. Nói một cách khác, đây là điểm 
mà mức tiêu dùng (phiá cầu) và sản xuất (phiá cung) bằng nhau đối với cả hai loại hàng. 
Điểm này còn được gọi là điểm cân bằng bên trong và cân bằng bên ngoài. Cân bằng 
bên trong được hiểu là cân bằng của cầu hàng phi ngoại thương và cung hàng phi ngoại 
thương (DN = SN) và cân bằng bên ngoài là trạng thái cung hàng ngoại thương bằng cầu 
hàng ngoại thương (ST = DT). Hay ta có cán cân thương mại còn gọi là cán cân ngoại 
thương (Trade balance, TB) bằng không (TB = 0 ). 
Tổng chi tiêu hay tổng hấp thu của nền kinh tế (A). 
Y = C + I + G + X – M 
Với A = C + I + G 
Suy ra: A = Y + (M – X) 
Nền kinh tế cân bằng khi: Y = A 
Giá tương đối của hai loại hàng hoá PT/PN là số đo của tỷ giá hối đoái thực (RER 
= NER* P*/P). Giá của hàng ngoại thương PT tính theo nội tệ dựa trên giá hàng hoá này 
trên thế giới P* nhân với tỷ giá danh nghiã NER, giá trong nước P cũng chính là giá của 
hàng hoá phi ngoại thương PN. Nếu PT/PN tăng, đường PT/PN trở nên dốc hơn, hàng 
ngoại thương trở nên mắc hơn so với hàng phi ngoại thương. Khi đó sản xuất sẽ có xu 
hướng di chuyển dọc theo đường PPF về phía hàng ngoại thương. Và tiêu dùng thì ngược 
lại, về phía hàng phi ngoại thương. 
1.2.2. Những chính sách và sự cân bằng của mô hình: 
Chính sách phá giá và cân bằng của mô hình: 
Một chính sách phá giá tỷ giá hối đoái thực sẽ tăng, hay PT/PN tăng lên, đường 
PT/PN trở nên dốc đứng hơn. Điểm sản xuất tiến dần về phiá hàng T và điểm tiêu dùng 
thì lại trượt về phiá hàng N. Do đó, ở thị trường hàng ngoại thương giá tương đối của 
hàng ngoại thương tăng kéo theo lượng cung tăng và lượng cầu giảm (ST>DT), nền kinh 
tế có nhiều hàng trao đổi ngoại thương hơn, TB sẽ được cải thiện hay thặng dư. Ở thị 
trường hàng phi ngoại thương, khi mức giá tương đối tăng lên có nghiã là hàng phi ngoại 
thương rẻ hơn một cách tương đối so với hàng ngoại thương nên lượng cung sẽ giảm và 
lượng cầu tăng dẫn đến giá của hàng phi ngoại thương gia tăng và kéo theo lạm phát. 
Ngược lại, nếu một chính sách nâng giá được áp dụng, có nghiã là làm giảm số đo 
của NER hay PT/PN giảm. Độ dốc của PT/PN thoải hơn, điểm sản xuất tiến dần về phiá 
hàng N do giá hàng này cao hơn một cách tương đối so với hàng T và điểm tiêu dùng thì 
lại đi về phiá hàng T do hàng này có giá ngày càng rẻ hơn một cách tương đối so với 
hàng N. Trên đồ thị của từng thị trường ta có thâm hụt trong thị trường hàng T (ST<DT: 
tiêu dùng hàng T tăng làm giảm lượng xuất khẩu đồng thời phải tăng nhập khẩu) và tăng 
tình trạng thất nghiệp trong thị trường hàng N (SN> DN: sản xuất vượt quá nhu cầu kéo 
theo hiện tượng dư thừa, sản xuất chậm lại và tình trạng sử dụng lao động giảm theo). 
Các chính sách thay đổi chi tiêu hay thay đổi hấp thụ trong nước: 
Chính sách thay đổi chi tiêu hay thay đổi hấp thu theo quan điểm của Nhà kinh tế J. 
M. Keynes nhằm tác động vào phiá cung còn được gọi là các chính sách quản lý tổng cầu 
bao gồm hai loại chủ yếu: chính sách tiền tệ và chính sách thu chi ngân sách (Chính sách 
tiền tệ liên quan đến biến số cung tiền M và lãi suất i, chính sách thu chi ngân sách liên 
quan đến hai biến số thu và chi của ngân sách chính phủ (T và G). 
Các chính sách này sẽ làm đường cầu trong từng thị trường dịch chuyển hay làm thay 
đổi phía cầu của từng thị trường hàng T và N. Giả sử nền kinh tế thực hiện chính sách mở 
rộng tiền tệ hay chính sách mở rộng thu chi ngân sách, cầu hàng T và N tăng lên thể hiện 
ở sự dịch chuyển của hai đường DT và DN sang phải. Cầu hàng T tăng kéo theo PT/PN 
có chiều hướng tăng . Cầu hàng N tăng lại có chiều hướng ngược lại PT/PN giảm hay 
PN/PT tăng. 
Ta thấy có sự hình thành từng cặp khu vực ở mỗi thị trường khi thực hiện chính sách 
quản lý tổng cầu mở rộng hay thu hẹp, có nghiã là ta lần lượt cho đường DT và DN dịch 
chuyển sang phải, sang trái. Trên thị trường hàng T, lấy đường ST làm chuẩn, khu vực 
thặng dư sẽ hẹp dần và thâm hụt lớn lên nếu ta áp dụng chính sách mở rộng. Ngược lại, 
khu vực thặng dư sẽ lớn dần, khu vực thâm hụt nhỏ lại nếu ta áp dụng chính sách thu hẹp. 
Đối với thị trường hàng N, xuất hiện khu vực lạm phát và thất nghiệp. Tương tự như ở thị 
trường hàng T, trong thị trường hàng N khi ta áp dụng các chính sách mở rộng hay thu 
hẹp tổng cầu, các khu vực lạm phát và thất nghiệp sẽ dần dần hiện ra hai bên của đường 
cung SN. 
Nền kinh tế chỉ đạt được trạng thái cân bằng tại 1 điểm là giao điểm EB và IB. Nền 
kinh tế thực có thể rơi và 1 trong bốn vùng mất cân bằng: vùng I – Thặng dư + Lạm phát, 
vùng II – Thâm hụt + Lạm phát, vùng III – Thâm hụt + Thất nghiệp, vùng IV – Thặng dư 
+ Thất nghiệp. 
1.2.3 Chính sách ổn định hoá và sự kết hợp các chính sách : 
Điểm cân bằng lý tưởng của nền kinh tế hay còn gọi là điểm hạnh phúc (Bliss Point) 
là điểm gặp nhau giữa hai đường EB và IB, tại đây nền kinh tế vừa đạt trạng thái cân 
bằng bên ngoài vừa đạt trạng thái cân bằng bên trong. Bất kỳ điểm nào nằm ngoài điểm 
cân bằng này đều rơi vào trạng thái mất cân bằng hay chỉ thoả cân bằng ở một thị trường. 
Để đưa các điểm này về trạng thái cân bằng lý tưởng cần thực hiện một hoặc kết hợp 
cả hai chính sách thay đổi A và hoặc hay thay đổi NER (nhằm thay đổi PT/PN). Các lực 
kéo kết hợp này sẽ đưa nền kinh tế tiến về điểm cân bằng. Trên thực tế không phải lúc 
nào nền kinh tế cũng chọn việc kết hợp cả hai chính sách mà có thể chọn một trong hai 
chính sách tuỳ theo mục tiêu của tăng trưởng và phát triển cũng như các mục tiêu kinh tế 
chính trị xã hội của quốc gia. Vào những năm 1970 đã xảy ra cuộc khủng hoảng giá dầu 
hoả, Hàn quốc và Đài loan đã đối mặt với mất cân bằng của nền kinh tế cụ thể là rơi vào 
trạng thái thâm hụt TB cao, nhưng Hàn quốc đã chọn con đường phá giá mà không cắt 
giảm chi tiêu nhằm mục đích bảo vệ tốc độ tăng trưởng và thúc đẩy xuất khẩu. Đài loan 
lại chọn con đường cắt giảm chi tiêu mà không phá giá vì muốn duy trì quan hệ mậu dịch 
vốn dĩ đã thặng dư so với Mỹ. Cả hai quốc gia này đã đạt phục hồi nhanh chóng do xuất 
khẩu tăng nhanh và tăng trưởng kinh tế mạnh hai năm sau đó. 
™ Áp dụng mô hình vào căn bệnh Hà Lan: 
Ba nguồn lực căn bản tưởng chừng như chỉ mang lại cho quốc gia nguồn lợi trù 
phú như là: việc khám phá ra quặng mỏ quý, tăng giá xuất khẩu của một số mặt hàng 
xuất khẩu chủ lực, dòng vốn đầu tư đi vào trong nước dồi dào đã mang lại cho nền kinh 
tế khoản thu nhập ngoại tệ cao bất ngờ. Nếu như nền kinh tế không kèm theo các chính 
sách điều hành hữu hiệu và sử dụng các nguồn lực này một cách có hiệu quả thì dễ dàng 
bị cuốn vào hai tác động: 
(1) Tác động chi tiêu 
(2) Tác động lôi kéo nguồn lực 
Nền kinh tế đạt trạng thái cân bằng lý tưởng , tại đây điểm sản xuất trùng điểm 
tiêu dùng và cán cân mậu dịch cân bằng hay nền kinh tế nói chung đang ở trạng thái cân 
bằng lý tưởng (cân bằng bên trong và cân bằng bên ngoài). 
Sau khi có “Của từ trên trời rơi ...  tiêu quá mức buộc chính phủ phải vay nợ từ bên 
ngoài làm cho nợ nước ngoài nhanh chóng tăng lên từ 4.3 tỷ lên 11.2 tỷ. Trong khi đó dự 
trữ ngoại tệ ngày càng cạn kiệt giảm từ 10 tỷ USD xuống còn 1.23 tỷ từ giai đoạn từ năm 
1981 đến 1983. 
Từ năm 1981-1984, thâm hụt ngân sách 12% so với GDP không kể khai khoáng. 
Áp lực tiêu dùng trong đầu những năm 80 tăng nhanh và vượt qua thu nhập từ xuất nhập 
khẩu dầu mỏ. Lạm phát tăng cao dẫn đến sự tăng lên tương đối về giá cả các yếu tố đầu 
vào của các ngành kinh tế truyền thống có lợi thế cạnh tranh để xuất khẩu. 
Nigeria theo đuổi một chính sách tỷ giá cững nhắc và ít thay đổi, đó là tỷ giá cố 
định. Tỷ giá hối đoái thực lên giá 3 lần năm 1984 so với năm 1970-1972, làm tăng nhập 
khẩu và giảm lượng xuất khẩu hàng hóa ngành công nghiệp truyền thống trươc đây, 
không phải dầu gần 90%. Sản lượng nông nghiệp xấu đi, sản lượng đầu người giảm, 
không nhận được đầu tư, xuất khẩu nông nghiệp giảm 2/3 trong 1973 – 1984. 
Tăng trưởng GDP không kể dầu chỉ khoảng 5.3% tương đương 60% tăng trưởng 
của 5 năm trước khi khám phá ra dầu. nền kinh tế của Nigeria mất cân đối, một số ngành 
kinh tế truyền thống không có điều kiện để phát triển do không đủ tiềm lực về tài chính 
và trình độ lao động, thất nghiêp tăng cao. 
Tóm lại, nền kinh tế của Nigeria trong những năm thập niên 70 –80 chủ yếu dựa 
vào xuất khẩu dầu mỏ. Nguồn thu ngoại tệ lớn từ xuất khẩu dầu làm tỷ giá hối đoái gia 
tăng; làm tăng chi phí đầu vào cho một số ngành kinh tế truyền trống có lợi thế xuất 
khẩu, đặc biệt là nông nghiệp; thất nghệp và lạm phát gia tăng cao; nợ nước ngoài chồng 
chất đã đẩy nền kinh tế Nigeria lâm vào tình trạng trì trệ kéo dài. Đó là những biểu hiện 
của căn bệnh Hà Lan. 
2.2 Cộng hòa Nauru 
Năm 1968, khi Australia trao độc lập thì tương lai đảo quốc này sáng lạng. Nauru 
có 13770 dân sống trên một hòn đảo rộng 21,7 km2. Thực ra đảo Nauru là một quả núi 
photphat, một khoáng sản dùng làm phân bón cho nông nghiệp. Nhờ tài nguyên đó, năm 
được độc lập, thu nhập mỗi người Nauru lớn gấp ba lần thu nhập của người Hoa Kỳ, chỉ 
thua có người Koweit. Vào thời cao điểm, năm 1990, đảo xuất khẩu 1,7 triệu tấn 
photphat. Nhưng kinh tế chỉ dựa vào nguồn tài nguyên duy nhất này. Dân và chính quyền 
đảo không khai triển ngành kinh tế nào khác, tiêu xài phung phí mà không nghĩ tới tương 
lai. Năm 2003 thì nguồn photphat cạn hết. Để có ngoại tệ, chính phủ Nauru đã phải sai 
dân mót tận thu những tụ quặng còn lại và nhặt xỏi đá ở bờ biển làm hàng xuất khẩu, 
thiết lập ngoại giao với Đài Loan đổi lấy viện trợ, cho Australia thuê mặt bằng quản thúc 
những người nhập cư bất hợp pháp, bán sổ thông hành nhà nước, cho phép mở ngân hàng 
có mục đích rửa tiền bất lương. 
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VIỆT NAM VỚI CĂN BỆNH HÀ LAN 
Một trong những nguyên nhân gây ra căn bệnh Hà Lan ở một số quốc gia là sự gia tăng 
ào ạt của dòng ngoại tệ (vốn) nước ngoài vào một số khu vực kém bền vững. Tại Việt 
Nam, qua hơn 20 năm từ “đổi mới”, dòng vốn ngoại tệ từ nước ngoài (đặc biệt là đầu tư 
trực tiếp FDI, và ODA) đổ vào ngày càng nhiều. Phải chăng đây là những dấu hiệu đầu 
tiên của Căn bệnh Hà Lan hay chỉ là nguy cơ? 
3.1 Thực trạng thu hút và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 
Năm 
Số dự án 
Vốn đăng kí(*) 
(triệu USD) 
Tổng vốn 
thực hiện 
(triệu USD) 
Qui mô bình 
quân 1 dự án 
(triệu USD) 
Tổng số 8867 142401.9 29394.9 16.06 
2000 391 2838.9 2413.5 7.26 
2001 555 3142.8 2450.5 5.66 
2002 808 2998.8 2591.0 3.71 
2003 791 3191.2 2650.0 4.03 
2004 811 4547.6 2852.5 5.61 
2005 970 6839.8 3308.8 7.05 
2006 987 12004.0 4100.1 12.16 
2007 1544 21347.8 8030.0 13.8 
2008 1171 64011.0 11400.0 54.66 
2009 839 21480.0 10000.0 25.60 
Trích tổng cục thống kê gso.gov.vn 
(*) Bao gồm cả vốn tăng thêm của các dự án đã được cấp giấy phép từ các năm trước. 
Qua số liệu ta thấy tổng số dự án cũng như tổng số vốn FDI vào Việt Nam trong 
giai đoạn 2000-2009 nhìn chung tăng lên với tốc độ khá nhanh. Từ năm 2000 số vốn 
đăng kí là 2838,9 triệu USD nhưng đến năm 2009 thì tổng số vốn đăng kí đã lên đến 
21480 triệu USD. Mức tăng bình quân năm trong giai đoạn này là 39.22%. Với lượng 
vốn FDI khổng lồ trên, nếu chúng ta không đầu tư đúng mục đích cho phát triển sẽ tạo ra 
những triệu chứng của căn bệnh Hà Lan. 
TỔNG HỢP ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM 
PHÂN THEO NGÀNH 
Các Dự án còn hiệu lực tính đến ngày 15/12/2009 
TT Chuyên ngành Số dự án 
Tổng vốn đầu tư 
đăng ký (USD) 
Vốn điều lệ 
(USD) 
1 CN chế biến,chế tạo 6,766 88,850,994,612 29,634,570,710 
2 KD bất động sản 315 40,117,953,638 9,990,957,249 
3 Dvụ lưu trú và ăn uống 258 14,964,511,189 2,433,438,420 
4 Xây dựng 501 9,103,498,618 3,250,878,311 
5 Thông tin và truyền thông 548 4,673,509,012 2,911,662,190 
6 Nghệ thuật và giải trí 120 3,680,589,178 1,046,333,799 
7 Khai khoáng 66 3,079,334,407 2,385,813,016 
8 Nông,lâm nghiệp;thủy sản 480 3,002,667,405 1,467,414,502 
9 Vận tải kho bãi 286 2,324,750,704 843,673,485 
10 SX,pp điện,khí,nước,đ.hòa 53 2,236,203,675 676,377,653 
11 Bán buôn,bán lẻ;sửa chữa 307 1,203,191,541 551,787,585 
12 Tài chính,n.hàng,bảo hiểm 72 1,181,695,080 1,084,363,000 
13 Y tế và trợ giúp XH 65 956,849,074 237,855,506 
14 Dịch vụ khác 80 625,730,000 140,541,644 
15 HĐ chuyên môn, KHCN 807 597,750,432 275,028,133 
 Công nghiệp, xây dựng và dịch vụ vẫn là hai lĩnh vực thu hút nhiều vốn FDI khá 
lớn trong cơ cấu kinh tế. Việc đáng lo là hầu hết vốn FDI đều tập trung vào những ngành 
thâm dụng lao động, tài nguyên chứ không phải những ngành có giá trị gia tăng cao hoặc 
đầu tư vào các ngành khoa học, công nghệ. 
Ngoài ra, công nhân khi tham gia vào các ngành sản xuất này sẽ không bị đòi hỏi 
tay nghề cao mà chỉ cần lao động đơn giản cùng với một mức lương hấp dẫn. Vì vậy, họ 
không có động lực củng cố tay nghề, học tập khoa học kĩ thuậtNhư vậy, tỉ lệ người có 
trình độ cao trong xã hội sẽ giảm. 
Từ những tác động trên, quá trình phi công nghiệp hóa tất yếu sẽ diễn ra. Không 
những vậy, một khi tài nguyên cạn kiệt, nhân công rẻ không còn là lợi thế, những nhà đầu 
tư này sẽ rút vốn về nước để lại phía sau một Việt Nam với nền công nghiệp vẫn lạc hậu 
và kém phát triển. 
Việt Nam là một trong những nước được nhận nhiều viện trợ ODA của các quốc 
gia phát triển và các tổ chức như World Bank, ADB, IMFTính đến năm 2007, cộng 
đồng quốc tế đã cam kết dành cho Việt Nam nguồn ODA với tổng giá trị gần 36,97 USD, 
đã ký kết 26,2 tỷ USD và giải ngân 17,9 tỷ USD. Đặc biệt trong những năm gần đây, vốn 
ODA cung cấp cũng tăng khá mạnh. 
Trong những năm qua. Với nguồn vốn dồi dào, Việt Nam đã có những biểu hiện 
của việc sử dụng không hiệu quả đã có biểu hiện của căn bệnh Hà Lan: tỷ giá ngày một 
lên cao, lạm phát tăng cao và tình trạng thâm hụt cán cân thương mại cũng ngày một trầm 
trọng. 
16 Giáo dục và đào tạo 127 269,037,416 105,066,210 
17 Hành chính và dvụ hỗ trợ 91 185,158,416 85,758,006 
18 Cấp nước;xử lý chất thải 18 59,423,000 37,123,000 
 Tổng số 10,960 177,112,847,397 57,158,642,419 
0.00
5.00
10.00
15.00
20.00
25.00
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009
thất nghiệp
lạm phát
Theo đồ thị, REER =1. Trục tung của đồ thị biểu diễn tỷ giá. Trục hoành biểu diễn 
chi tiêu trong nước, bao gồm: tiêu dùng (C), đầu tư (I), và chi tiêu của Chính phủ (G). 
Theo cách tính REER của nhóm nghiên cứu, thì REER của Việt Nam có xu hướng giảm 
xuống, tức là đang bị định giá cao hơn. Thâm hụt cán cân vãng lai kéo dài dai dẳng từ 
năm 2002 đến năm 2008 đưa nền kinh tế Việt Nam nằm bên phải đường cân bằng ngoại 
EB. Năm 2008, tình trạng thất nghiệp của người lao động tăng cao do ảnh hưởng của 
khủng hoảng tài chính toàn cầu (Theo Outlook 2009, Vietnam: Năm 2008, tỷ lệ thất 
nghiệp ở khu vực thành thị ước tính tăng 5% và tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực nông thôn 
cũng tăng lên mặc dù chính sách nông nghiệp đã được cải cách đáng kể). Có nghĩa là 
trạng thái nền kinh tế Việt Nam đang nằm bên trái đường cân bằng nội IB, tức tại điểm B, 
vùng số 2. 
Để nền kinh tế Việt Nam (điểm B) trở về trạng thái cân bằng đối nội và đối ngoại, 
tức tại điểm A, Chính phủ cần thực hiện những mục tiêu sau: 
- Đối với mục tiêu cân bằng nội, Chính phủ phải tăng chi tiêu trong nước, tức là 
tăng đầu tư, tiêu dùng, chi tiêu của Chính phủ, đưa nền kinh tế duy chuyển tới 
điểm D. Điều này đưa nền kinh tế đến tình trạng thậm hụt cán cân vãng lai. 
- Đối với mục tiêu cân bằng ngoại, Chính phủ thực hiện phá giá đồng nội tệ, khi đó 
sẽ kích thích tăng xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu, do đó đưa nền kinh tế đến điểm 
C, khi đó kinh tế Việt Nam sẽ đối diện với tình trạng thất nghiệp. 
Vì vậy, để đạt được cả 2 mục tiêu cân bằng bên trong và bên ngoài, Chính phủ nên kết 
hợp cả 2 công cụ: phá giá tiền tệ và tăng chi tiêu trong nước đồng bộ với nhau, không nên 
dùng một trong 2 phương pháp một cách riêng lẻ. 
3.2 Một số kiến nghị: 
Để tránh xảy ra Căn bệnh Hà Lan đối với các nước đang phát triển, ta cần phải có các 
giải pháp “phòng bệnh” như sau: 
- Sử dụng nguồn thu ngoại tệ từ việc khai thác tài nguyên, xuất nhập khẩu hàng sơ 
chế hay các nguồn viện trợ từ nước ngoài một cách có hiệu quả bằng cách xây 
dựng các chiến lược khai thác, sử dụng và phát triển hợp lý. 
- Đa dạng hóa các hoạt động kinh tế, tránh tình trạng suy giảm mạnh của khu vực 
sản xuất (manufacturing factor) khi một quốc gia tập trung khai thác khu vực khác. 
- Không chú trọng quá mức vào một mặt hàng xuất khẩu của quốc gia, cần mở rộng 
các mặt hàng có lợi thế so sánh khác để tối thiểu hóa rủi ro. 
- Tổ chức cơ cấu kinh tế hợp lý, gắn công nghiệp khai thác với công nghiệp chế 
biến 
- Hạn chế thấp nhất xuất khẩu mặt hàng nguyên liệu thô và sản phẩm sơ chế, hạn 
chế nhập khẩu sản phẩm tiêu dùng và không nên phụ thuộc quá nhiều vào công 
nghệ của nước ngoài 
- Tập trung cho giáo dục đào tạo, nâng cao trình độ công nghệ, phát huy lợi thế so 
sánh của các ngành kinh tế truyền thông của quốc gia 
- Trong quá trình xuất khẩu tránh phục thuộc quá lớn vào một vài đối tác ngoại 
thương. 
KẾT LUẬN 
Thận trọng trong việc quản lý nguồn của cải mới hay thay đổi đường hướng của nền 
kinh tế nhằm thích nghi với những hoàn cảnh mới, như sử dụng nguồn của cải một cách 
khôn ngoan, chắc chắn sẽ là lựa chọn thông minh nhất cho một nền kinh tế muốn phát 
triển bền vững . 
Bài học sâu sắc nhất từ “căn bệnh Hà Lan” chính là bài học về vấn đề “bền vững” 
trong tăng trưởng kinh tế. Nói cách khác, dù trong hoàn cảnh nào, thời đại nào, nếu tăng 
trưởng kinh tế không đảm bảo sự “bền vững” thì tăng trưởng ấy sẽ không có giá trị. 
PHỤ LỤC: DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO: 
1. Nguyễn Chí Hải, Bài giảng môn kinh tế phát triển, Trường ĐH Kinh tế - Luật. 
2. Michael P. Todaro (1998), Kinh tế học cho sự phát triển, NXB Giáo dục – Hà Nội. 
3. Chương trình giảng dạy kinh tế Fulright 2005-2006, bài giảng: Quản lý nền kinh tế mở 
4. Các website: 
www.worldbank.org 
www.imf.org 
..... 

File đính kèm:

  • pdftieu_luan_can_benh_ha_lan_ly_thuyet_va_thuc_tien.pdf