Tiểu luận Đôla hóa nền kinh tế - Thực trạng và giải pháp

CHƯƠNG 1: CỞ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆN TƯỢNG ĐÔ LA HÓA

1.1 Khái niệm

Đôla hóa (Dollarization) là một hiện tượng phổ biến ở khá nhiều nước trên

thế giới, đặc biệt là ở Mỹ Latinh. Quan điểm chung cho rằng, đôla hóa là việc sử

dụng một ngoại tệ (thường là các ngoại tệ mạnh và có khả năng tự do chuyển đổi)

thay thế đồng nội tệ để thực hiện một số chức năng của tiền tệ (lưu thông, thanh

toán hay cất trữ).

Bất kỳ một ngoại tệ nào (như Đôla Mỹ, Euro, Yên Nhật ) có khả năng

thay thế đồng nội tệ cũng dẫn đến hiện tượng “Đôla hóa”. Tuy nhiên trong tình

hình hiện nay, nói đến Đôla hóa, người ta chỉ nghĩ đến một đồng tiền duy nhất đó

là Đôla Mỹ (USD). Mặc dù hiệp ước Bretton Wood (The Bretton Woods

Agreement lấy đồng dollar (USD) làm tiêu chuẩn, và thiết lập tỷ giá giữa vàng và

USD là 35$/ 1 ounce) đã phá sản nhưng từ lâu USD đã trở thành phương tiện

thanh toán quốc tế mà không có đồng tiền nào có thể thay thế được. Mặt khác, Mỹ

luôn lợi dụng sự lớn mạnh của nền kinh tế đã gây sức ép với nhiều quốc gia trên

thế giới, trong đó hệ thống tiền tệ vốn chưa “hoàn thiện”, và còn rất “nhạy cảm” ở

các nước đang phát triển.

Theo tiêu chí của IMF đưa ra, một nền kinh tế được coi là có tình trạng đôla

hóa cao khi mà tỷ trọng tiền gửi bằng ngoại tệ chiếm từ 30% trở lên trong tổng

khối tiền tệ mở rộng (M2); bao gồm: tiền mặt trong lưu thông, tiền gửi không kỳ

hạn, tiền gửi có kỳ hạn, và tiền gửi ngoại tệ.

1.2 Phân loại

1.2.1 Căn cứ vào hình thức: Đôla hóa được thể hiện dưới 3 hình thức sau:

• Đôla hóa thay thế tài sản: Thể hiện qua tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ trên tổng

phương tiện thanh toán (FCD/M2). Theo IMF, khi tỷ lệ này trên 30% thì

nền kinh tế đó được cho là có tình trạng đôla hóa cao, tạo ra các lệch lạc

trong điều hành tài chính tiền tệ vĩ mô. Nhìn chung đối với các nền kinh tếĐôla hóa nền kinh tế - Thực trạng và giải pháp

Kinh tế vĩ mô 2 Page 4

chuyển đổi, tỷ lệ đô la hóa hiện nay bình quân là 29%.

• Đôla hóa phương tiện thanh toán: Là mức độ sử dụng ngoại tệ trong thanh

toán. Các giao dịch thanh toán bất hợp pháp bằng ngoại tệ rất khó đánh giá

nhất là đối với những nền kinh tế tiền mặt như Việt Nam.

• Đôla hóa định giá, niêm yết giá: Là việc niêm yết, quảng cáo, định giá bằng

ngoại tệ

pdf 23 trang chauphong 19/08/2022 8000
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tiểu luận Đôla hóa nền kinh tế - Thực trạng và giải pháp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Tiểu luận Đôla hóa nền kinh tế - Thực trạng và giải pháp

Tiểu luận Đôla hóa nền kinh tế - Thực trạng và giải pháp
Đôla hóa nền kinh tế - Thực trạng và giải pháp 
Kinh tế vĩ mô 2 Page 1 
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HCM 
ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT 
-----[\	[\----- 
Bài tiểu luận 
ĐÔLA HÓA NỀN KINH TẾ - THỰC 
TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP 
 Gv hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Văn Luân 
 Sinh viên thực hiện: Lê Thị Ly Na 
 K084010050 
 TP Hồ Chí Minh - 5/2011 
Đôla hóa nền kinh tế - Thực trạng và giải pháp 
Kinh tế vĩ mô 2 Page 2 
LỜI MỞ ĐẦU 
Trong nền kinh tế hiện đại, cùng với tiến trình hội nhập diễn ra mạnh mẽ, 
quá trình tự do hóa tài chính liên tục, các luồng tài chính dòng vốn được giao lưu 
tự do và xuyên suốt từ quốc gia này sang quốc gia khác. Trong bối cảnh đó nền 
kinh tế mỗi quốc gia càng gắn liền với tình hình biến động kinh tế chính trị diễn ra 
trong toàn cầu, Việt Nam chúng ta đã gia nhập WTO, cũng chịu sự tác động to lớn 
trong xu thế đó. Một nền kinh tế phát triển ổn định bền vững, tự chủ về tài chính 
sẽ giúp nền kinh tế đất nước có sức đề kháng trước những cú sốc kinh tế bên ngoài 
nhất là các cuộc khủng hoảng kinh tế. “Chẩn đoán” ra các căn bệnh của nền kinh 
tế và tìm cách “chữa trị” nó là cách hữu hiệu để đứng vững trên con đường hội 
nhập, trong đó vấn đề đặt ra đối với hệ thống tài chính cũng như nền kinh tế hiện 
nay là tình hình “đôla hóa” mà theo các chuyên gia “đôla hóa Việt Nam đang ở 
mức báo động” có thể ảnh hưởng rất sâu sắc đối với nền kinh tế Việt Nam. 
Vậy đô la hóa là gì? Đô la hóa tốt hay xấu? Nó ảnh hưởng như thế nào đến 
nền kinh tế, đến đời sống nhân dân? Cần loại bỏ hay duy trì tình trạng đô la hóa 
trong nền kinh tế? Thực trạng và giải pháp cho tình trạng đô la hóa ở Việt Nam. 
Đó là những vấn đề cần phải làm rõ trong đề tài này. 
Đôla hóa nền kinh tế - Thực trạng và giải pháp 
Kinh tế vĩ mô 2 Page 3 
CHƯƠNG 1: CỞ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆN TƯỢNG ĐÔ LA HÓA 
1.1 Khái niệm 
Đôla hóa (Dollarization) là một hiện tượng phổ biến ở khá nhiều nước trên 
thế giới, đặc biệt là ở Mỹ Latinh. Quan điểm chung cho rằng, đôla hóa là việc sử 
dụng một ngoại tệ (thường là các ngoại tệ mạnh và có khả năng tự do chuyển đổi) 
thay thế đồng nội tệ để thực hiện một số chức năng của tiền tệ (lưu thông, thanh 
toán hay cất trữ). 
Bất kỳ một ngoại tệ nào (như Đôla Mỹ, Euro, Yên Nhật) có khả năng 
thay thế đồng nội tệ cũng dẫn đến hiện tượng “Đôla hóa”. Tuy nhiên trong tình 
hình hiện nay, nói đến Đôla hóa, người ta chỉ nghĩ đến một đồng tiền duy nhất đó 
là Đôla Mỹ (USD). Mặc dù hiệp ước Bretton Wood (The Bretton Woods 
Agreement lấy đồng dollar (USD) làm tiêu chuẩn, và thiết lập tỷ giá giữa vàng và 
USD là 35$/ 1 ounce) đã phá sản nhưng từ lâu USD đã trở thành phương tiện 
thanh toán quốc tế mà không có đồng tiền nào có thể thay thế được. Mặt khác, Mỹ 
luôn lợi dụng sự lớn mạnh của nền kinh tế đã gây sức ép với nhiều quốc gia trên 
thế giới, trong đó hệ thống tiền tệ vốn chưa “hoàn thiện”, và còn rất “nhạy cảm” ở 
các nước đang phát triển. 
Theo tiêu chí của IMF đưa ra, một nền kinh tế được coi là có tình trạng đôla 
hóa cao khi mà tỷ trọng tiền gửi bằng ngoại tệ chiếm từ 30% trở lên trong tổng 
khối tiền tệ mở rộng (M2); bao gồm: tiền mặt trong lưu thông, tiền gửi không kỳ 
hạn, tiền gửi có kỳ hạn, và tiền gửi ngoại tệ. 
1.2 Phân loại 
1.2.1 Căn cứ vào hình thức: Đôla hóa được thể hiện dưới 3 hình thức sau: 
• Đôla hóa thay thế tài sản: Thể hiện qua tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ trên tổng 
phương tiện thanh toán (FCD/M2). Theo IMF, khi tỷ lệ này trên 30% thì 
nền kinh tế đó được cho là có tình trạng đôla hóa cao, tạo ra các lệch lạc 
trong điều hành tài chính tiền tệ vĩ mô. Nhìn chung đối với các nền kinh tế 
Đôla hóa nền kinh tế - Thực trạng và giải pháp 
Kinh tế vĩ mô 2 Page 4 
chuyển đổi, tỷ lệ đô la hóa hiện nay bình quân là 29%. 
• Đôla hóa phương tiện thanh toán: Là mức độ sử dụng ngoại tệ trong thanh 
toán. Các giao dịch thanh toán bất hợp pháp bằng ngoại tệ rất khó đánh giá 
nhất là đối với những nền kinh tế tiền mặt như Việt Nam. 
• Đôla hóa định giá, niêm yết giá: Là việc niêm yết, quảng cáo, định giá bằng 
ngoại tệ. 
1.2.2 Căn cứ vào phạm vi: 
Tùy theo mức độ sử dụng rộng rãi đồng USD trong nền kinh tế và thái độ của 
quốc gia đó đối với việc thừa nhận hay không thừa nhận đồng USD mà Đô la hóa 
được chia làm ba mức độ: 
• Đô la hóa không chính thức (Unofficial dollarization): là trường hợp đồng 
đôla được sử dụng rộng rãi trong nền kinh tế, mặc dù không được quốc gia đó 
chính thức thừa nhận. Đô la hóa không chính thức có thể bao gồm các loại sau: 
9 Các trái phiếu ngoại tệ và các tài sản phi tiền tệ ở nước ngoài. 
9 Tiền gửi bằng ngoại tệ ở nước ngoài. 
9 Tiền gửi ngoại tệ ở các ngân hàng trong nước. 
9 Trái phiếu hay các giấy tờ có giá bằng ngoại tệ cất trong túi. 
• Đô la hóa bán chính thức (đôla hóa từng phần) (Semiofficial dollarization) 
xảy ra khi một nước sử dụng đồng ngoại tệ như là đồng tiền pháp định nhưng đóng 
vai trò thứ hai sau đồng nội tệ trong việc chi trả tiền lương, thuế và các chi tiêu 
hàng ngày như tiền đi chợ, tiền điện, nước .v.v.v. 
Không giống như các nước thực hiện đôla hoá chính thức, những nước có đôla 
hoá bán chính thức vẫn giữ một ngân hàng trung ương trong nước hoặc một hệ 
thống tiền tệ khác và có một khu vực riêng để thực hiện chính sách tiền tệ của 
mình. Những nước có đôla hoá bán chính thức tiêu biểu như: Brunei, Tajikistan, 
Liberia, Lào, Campuchia, v.vQuỹ tiền tệ thế giới (IMF) xếp Việt Nam vào 
Đôla hóa nền kinh tế - Thực trạng và giải pháp 
Kinh tế vĩ mô 2 Page 5 
nhóm những nước Đôla hóa không chính thức. 
• Đôla hóa chính thức (Đôla hóa hoàn toàn) (Official dollarization): xảy ra 
khi một nước không phát hành nội tệ mà thay vào đó sử dụng đôla Mỹ hoặc một 
ngoại tệ khác như một tiền tệ chính thức (một số ít các nước đôla hoá chính thức 
có phát hành tiền xu nhưng vì tiền xu có mệnh giá thấp và thường là một phần phụ 
trong cung tiền tệ nên có không ảnh hưởng đến đôla hoá). Như vậy, ở những nước 
này, ngoại tệ không chỉ sử dụng trong trao đổi mua bán giữa các cá nhân mà còn là 
phương tiện thanh toán của chính phủ. 
Khi một nước thực hiện đôla hoá chính thức thì mặc nhiên nó sẽ trở thành một 
bộ phận trong khu vực tiền tệ thống nhất cùng với nước có đồng tiền mà nó đang 
sử dụng. Và như vậy, nước đôla hoá chính thức sẽ từ bỏ chính sách tiền tệ độc lập 
của mình và áp dụng những chính sách tiền tệ của nước mà nó đang sử dụng đồng 
tiền. Vì vậy, nước thực hiện đôla hoá chính thức sẽ không thể phản ứng lại những 
cú sốc kinh tế bằng cách thay đổi chính sách tỉ giá hối đoái của nước mình. Tuy 
nhiên, nước này vẫn có thể sử dụng những phương cách khác như điều chỉnh dòng 
vốn vào/ra, thay đổi chính sách giá, chính sách kinh tế, .v.v. 
1.3 Nguyên nhân của hiện tượng đô la hoá 
Trước hết, đôla hoá là hiện tượng phổ biến xảy ra ở nhiều nước, đặc biệt là ở 
các nước chậm phát triển. Đôla hoá thường gặp khi một nền kinh tế có tỷ lệ lạm 
phát cao, sức mua của đồng bản tệ giảm sút thì người dân phải tìm các công cụ dự 
trữ giá trị khác, trong đó có các đồng ngoại tệ có uy tín. Song song với chức năng 
làm phương tiện cất giữ giá trị, dần dần đồng ngoại tệ sẽ cạnh tranh với đồng nội 
tệ trong chức năng làm phương tiện thanh toán hay làm thước đo giá trị. 
- Tình trạng đô la hoá bao gồm cả ba chức năng thuộc tính của tiền tệ, đó là: 
• Chức năng làm phương tiện thước đo giá trị. 
• Chức năng làm phương tiện cất giữ. 
• Chức năng làm phương tiện thanh toán. 
Đôla hóa nền kinh tế - Thực trạng và giải pháp 
Kinh tế vĩ mô 2 Page 6 
Thứ hai, hiện tượng đôla hoá bắt nguồn từ cơ chế tiền tệ thế giới hiện đại, 
trong đó tiền tệ của một số quốc gia phát triển, đặc biệt là đô la Mỹ, được sử dụng 
trong giao lưu quốc tế làm vai trò của "tiền tệ thế giới". Nói cách khác, đôla Mỹ là 
một loại tiền mạnh, ổn định, được tự do chuyển đổi đã được lưu hành khắp thế 
giới và từ đầu thế kỷ XX đã dần thay thế vàng, thực hiện vai trò tiền tệ thế giới. 
Ngoài đồng đô la Mỹ, còn có một số đồng tiền của các quốc gia khác cũng được 
quốc tế hoá như: Bảng Anh, Mác Đức, Yên Nhật, Franc Thuỵ Sỹ, Euro của EU... 
nhưng vị thế của các đồng tiền này trong giao lưu quốc tế không lớn; chỉ có đô la 
Mỹ là chiếm tỷ trọng cao nhất (khoảng 70% kim ngạch giao dịch thương mại thế 
giới). Cho nên người ta thường gọi hiện tượng ngoại tệ hoá là "Đôla hoá". 
Thứ ba, trong điều kiện của thế giới ngày nay, hầu hết các nước đều thực thi cơ 
chế kinh tế thị trường mở cửa; quá trình quốc tế hoá giao lưu thương mại, đầu tư 
và hợp tác kinh tế ngày càng tác động trực tiếp vào nền kinh tế và tiền tệ của mỗi 
nước, nên trong từng nước xuất hiện nhu cầu khách quan sử dụng đơn vị tiền tệ 
thế giới để thực hiện một số chức năng của tiền tệ. Đô la hoá ở đây có khi là nhu 
cầu, trở thành thói quen thông lệ ở các nước. 
Thứ tư, mức độ đô la hoá ở mỗi nước khác nhau phụ thuộc vào trình độ phát 
triển nền kinh tế, trình độ dân trí và tâm lý người dân, trình độ phát triển của hệ 
thống ngân hàng, chính sách tiền tệ và cơ chế quản lý ngoại hối, khả năng chuyển 
đổi của đồng tiền quốc gia. Những yếu tố nói trên ở mức độ càng thấp thì quốc gia 
đó sẽ có mức độ đô la hoá càng cao. 
1.4 Những tác động của hiện tượng đô la hoá: 
Tình trạng "đô la hoá" nền kinh tế có tác động tích cực và tác động tiêu cực. 
1.4.1 Những tác động tích cực: 
- Tạo một cái van giảm áp lực đối với nền kinh tế trong những thời kỳ lạm 
phát cao, bị mất cân đối và các điều kiện kinh tế vĩ mô không ổn định. Do có một 
Đôla hóa nền kinh tế - Thực trạng và giải pháp 
Kinh tế vĩ mô 2 Page 7 
lượng lớn đôla Mỹ trong hệ thống ngân hàng, sẽ là một công cụ tự bảo vệ chống 
lại lạm phát và là phương tiện để mua hàng hoá ở thị trường phi chính thức. 
Ở các nước đô la hoá chính thức, bằng việc sử dụng đồng ngoại tệ, họ sẽ duy trì 
được tỷ lệ lạm phát gần với mức lạm phát thấp làm tăng sự an toàn đối với tài sản 
tư nhân, khuyến khích tiết kiệm và cho vay dài hạn. Hơn nữa, ở những nước này 
ngân hàng trung ương sẽ không còn khả năng phát hành nhiều tiền và gây ra lạm 
phát, đồng thời ngân sách nhà nước sẽ không thể trông chờ vào nguồn phát hành 
này để trang trải thâm hụt ngân sách, kỷ luật về tiền tệ và ngân sách được thắt 
chặt. Do vậy, các chương trình ngân sách sẽ mang tính tích cực hơn. 
- Tăng cường khả năng cho vay của ngân hàng và khả năng hội nhập quốc tế. 
Với một lượng lớn ngoại tệ thu được từ tiền gửi tại ngân hàng, các ngân hàng sẽ 
có điều kiện cho vay nền kinh tế bằng ngoại tệ, qua đó hạn chế việc phải vay nợ 
nước ngoài, và tăng cường khả năng kiểm soát của ngân hàng trung ương đối với 
luồng ngoại tệ. Đồng thời, các ngân hàng sẽ có điều kiện mở rộng các hoạt động 
đối ngoại, thúc đẩy quá trình hội nhập của thị trường trong nước với thị trường 
quốc tế. 
- Hạ thấp chi phí giao dịch. Ở những nước đô la hoá chính thức, các chi phí 
như chênh lệch giữa tỷ giá mua và bán khi chuyển từ đồng tiền này sang đồng tiền 
khác được xoá bỏ. Các chi phí dự phòng cho rủi ro tỷ giá cũng không cần thiết, 
các ngân hàng có thể hạ thấp lượ ...  việc 
cho các công ty nước ngoài và các tổ chức quốc tế ở Việt Nam; tiền cho người 
nước ngoài thuê nhà và kinh doanh du lịch; khách quốc tế đến và chi tiêu đô la 
bằng tiền mặt ở Việt Nam; người nước ngoài sinh sống và làm việc ở Việt Nam 
tiêu dùng; tiền của người Việt Nam định cư ở nước ngoài gửi về; tiền của những 
người đi xuất khẩu lao động, đi học tập, hội thảo, làm việc ngắn ngày mang về. 
Nguồn kiều hối ngày càng có xu hướng tăng mạnh với mức tăng bình quân 
10%/năm và tới năm 2010 dự tính sẽ lên tới 5 tỷ USD. Đó là con số thống kê được 
qua hệ thống ngân hàng, chưa kể ngoại hối được chuyển ngoài luồng, ngoại tệ tiền 
mặt người Việt Nam và Việt kiều mang trực tiếp theo người khi nhập cảnh. 
Lượng khách quốc tế đến Việt Nam cũng tăng nhanh, năm 1996 mới là 1,607 
triệu lượt người; năm 1997 là 1,715 triệu; năm 2002 là 2,628 triệu; và trong 9 
tháng đầu năm 2004 đạt gần 2,9 triệu lượt người. Số lượng khách đó mang theo 
một số lượng lớn ngoại tệ, và chi tiêu bằng ngoại tệ tiền mặt tại các cơ sở tư nhân. 
• Tình trạng buôn lậu, nhất là buôn bán qua biên giới và trên biển khá phát 
triển và sự quản lý lỏng lẻo của chính quyền các cấp. Tình trạng các doanh nghiệp, 
các cửa hàng kinh doanh... bán hàng thu bằng ngoại tệ còn tuỳ tiện và diễn ra phổ 
biến. 
Trước thực trạng trên, chúng ta cần phải nhận định rõ rằng: Đô la hóa là tình 
trạng khó tránh khỏi đối với những nước có xuất phát điểm thấp, đang trong quá 
trình chuyển đổi nền kinh tế và từng bước hội nhập như Việt Nam. Xóa bỏ đô la 
hóa không phải là xóa bỏ hoàn toàn và phủ định tất cả vì cũng giống như lạm phát, 
Đôla hóa nền kinh tế - Thực trạng và giải pháp 
Kinh tế vĩ mô 2 Page 17 
phải duy trì ở một mức độ phù hợp và ổn định để thúc đẩy phát triển kinh tế. 
Chúng ta phải chấp nhận sự hiện diện của đô la hóa trên cơ sở kiềm chế, khai thác 
mặt lợi, hạn chế mặt tiêu cực... 
2.3 Một số giải pháp kiềm chế và đẩy lùi tình trạng đô la hoá ở nước ta 
Quan điểm, chủ trương của Đảng, Chính phủ và ngân hàng Trung ương trong 
vấn đề đôla hoá là rất rõ ràng: xoá bỏ đôla hoá trong nền kinh tế - xã hội nước ta 
phải được thực hiện từng bước, từng khâu thích ứng với từng giai đoạn đổi mới, 
phát triển của đất nước; phải bằng nhiều giải pháp vừa kinh tế, vừa hành chính kết 
hợp với giáo dục pháp luật, điều chỉnh tâm lý xã hội trong lộ trình thực thi nhiều 
cơ chế kinh tế nghiệp vụ ngân hàng cụ thể nối tiếp nhau, để nâng vị thế của đồng 
tiền Việt Nam trong các chức năng thuộc tính của tiền tệ. 
Nghị quyết IV của Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá 8) trong phần đề 
cập những chủ trương chính sách lớn, riêng trong lĩnh vực tiền tệ - ngân hàng một 
lần nữa khẳng định yêu cầu "Đẩy nhanh tiến độ thực hiện nguyên tắc trên đất nước 
Việt Nam phải thanh toán bằng tiền Việt Nam". 
Việc xoá bỏ đôla hoá không thể xử lý theo quan điểm xoá bỏ sạch trơn, phủ 
định tất cả. Trong giai đoạn hiện nay cần cố gắng khai thác mặt lợi, thu hút vốn 
đôla trong dân vào hệ thống ngân hàng, đầu tư cho các dự án phát triển kinh tế - xã 
hội. thị trường ngoại tệ và hoạt động kinh doanh tiền tệ ở nước ta đang hội nhập 
với thị trường tiền tệ quốc tế. Nói kiềm chế, đẩy lùi và hạn chế các mặt tiêu cực, 
có nghĩa là chúng ta chấp nhận sự tồn tại của đô la hoá ở những mặt tích cực 
khách quan. Điều quan trọng nhất là Nhà nước phải giữ vai trò chủ động để điều 
chỉnh hiện tượng đô la hoá; nhất quyết phải có các giải pháp hành chính - kinh tế - 
giáo dục đồng bộ để triệt tiêu các mặt tiêu cực của đô la hoá. Chúng ta không thể 
sử dụng lại các biện pháp hành chính đã từng áp dụng lại các biện pháp hành chính 
đã từng áp dụng trong những thời gian trước đây như là: tăng tỷ lệ kết hối lên 
100%, không cho nhận kiều hối bằng ngoại tệ, không nhận tiền gửi ngoại tệ hoặc 
hạ thấp lãi suất tiền gửi ngoại tệ, chỉ cho phép doanh nghiệp được mở tài khoản 
Đôla hóa nền kinh tế - Thực trạng và giải pháp 
Kinh tế vĩ mô 2 Page 18 
ngoại tệ tại một ngân hàng... Những biện pháp hành chính này qua thực tiến thực 
hiện đã chứng tỏ là chúng gây khó khăn cho các doanh nghiệp, không khuyến 
khích nguồn kiều hối chuyển về nước, và không phù hợp với xu hướng hội nhập 
với khu vực và thế giới. Do đó, để giữ được những mặt tích cực và hạn chế những 
mặt tiêu cực của đô la hoá, có thể thực hiện một số giải pháp sau đây: 
2.3.1 Tạo môi trường đầu tư trong nước có khả năng hấp thụ được số vốn ngoại tệ 
hiện có trong dân bằng những biện pháp : 
• Thúc đẩy phát triển môi trường kinh tế vĩ mô, tạo môi trường cạnh tranh thực sự 
giữa các thành phần kinh tế trong cả sản xuất, thương mại, dịch vụ và kể cả lĩnh 
vực tài chính, ngân hàng. 
• Mở rộng các dự án đầu tư của Chính phủ: dầu khí, cầu đường, điện lực... khuyến 
khích sự tham gia đầu tư của các thành phần kinh tế. 
• Phát triển các công cụ tài chính như cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, đa dạng hoá 
các danh mục đầu tư trong nước. Thay cho dự kiến phát hành trái phiếu ngoại tệ 
trên thị trường quốc tế, bằng việc mở rộng phát hành trái phiếu ngoại tệ ở trong 
nước, huy động vốn đôla ở trong dân. 
2.3.2 Những giải pháp trong lĩnh vực tiền tệ: 
• Cần tiếp tục cơ cấu tích cực mệnh giá đồng Việt Nam, phát triển dịch vụ ngân 
hàng và mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế. Đẩy mạnh 
tuyên truyền về sử dụng thẻ, kể cả thẻ tín dụng quốc tế. 
• Thay cho việc chỉ gắn với đồng đô la Mỹ như trước đây, tỷ giá ngang giá nên 
gắn với một "rổ" tiền tệ (bao gồm một số ngoại tệ mạnh như USD, EURO, JPY và 
một số đồng tiền của các nước trong khu vực như Trung Quốc, Hàn Quốc...), các 
đồng tiền này tham gia vào "rổ" tiền tệ theo tỷ trọng quan hệ thương mại và đầu tư 
với Việt Nam. Việc xác định tỷ giá như trên nhằm giảm bớt sự lệ thuộc của đồng 
Việt Nam vào đô la Mỹ, và phản ánh xác thực hơn quan hệ cung cầu trên thị 
trường trên cơ sở có tính đến xu hướng biến động các đồng tiền của các nước bạn 
Đôla hóa nền kinh tế - Thực trạng và giải pháp 
Kinh tế vĩ mô 2 Page 19 
hàng lớn. 
• Các ngân hàng chỉ được phép cho vay đồng USD đối với những đối tượng có 
doanh thu trực tiếp và có khả năng chi trả bằng đồng USD. Còn tất cả các dnb 
trong nước khác vay các ngân hàng thương mại trong nước đều thực hiện bằng 
đồng bản tệ, khi cần ngoại tệ để thanh toán với quốc tế thì mua ngoại tệ tại thị 
trường hối đoái để mở LC thanh toán. 
• Không được duy trì quyền sở hữu ngoại tệ không có nguồn gốc hợp pháp. Cần 
có quy chế rõ ràng rằng sở hữu ngoại tệ của dân cư là sở hữu ngoại tệ hợp pháp 
chuyển từ nước ngoài vào; không cho phép sở hữu số ngoại tệ có được do sự trao 
đổi lòng vòng ở chợ đen, rồi biến số đó thành sở hữu riêng. 
• Sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ (như lãi suất, dự trữ bắt buộc...) để 
tác động đến điều kiện thị trường nhằm làm cho đồng Việt Nam hấp dẫn hơn đô la 
Mỹ. Qua đó hạn chế xu hướng chuyển đổi từ đồng Việt Nam sang đô la Mỹ. 
Trong điều kiện hiện nay, lãi suất cơ bản không thay đổi, Ngân hàng Nhà nước có 
thể thực hiện điều chỉnh tăng lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu nhằm 
phát tín hiệu để các ngân hàng thương mại tăng lãi suất huy động đồng Việt Nam. 
2.3.3 Cần nhất quán chủ trương quản lý lưu hành ngoại tệ theo hướng "Trên đất 
nước Việt Nam chỉ chi trả bằng đồng Việt Nam". Muốn vậy, cần có các quy định 
về việc sử dụng ngoại tệ của cá nhân như sau: 
• Chi trả bằng ngoại tệ ở Việt Nam, bao gồm tiền mặt hay chuyển khoản cũng 
không được phép, trừ duy nhất trường hợp trả chuyển khoản cho các tổ chức kinh 
doanh được Ngân hàng Nhà nước cho phép tiếp tục thu ngoại tệ. 
Việc chi trả cho người hưởng trong nước các khoản tiền như kiều hối, tiền lương, 
thu nhập từ xuất khẩu lao động... bằng ngoại tệ tiền mặt theo yêu cầu cũng nên 
chấm dứt. Việc này chỉ thực hiện bằng tài khoản tiền gửi ngoại tệ hoặc chi trả 
bằng tiền Việt Nam. 
• Cá nhân có tài khoản ngoại tệ gửi tại ngân hàng thương mại chỉ rút ra bằng tiền 
mặt ngoại tệ để cất giữ riêng hoặc để đưa đi nước ngoài chi tiêu. 
Đôla hóa nền kinh tế - Thực trạng và giải pháp 
Kinh tế vĩ mô 2 Page 20 
• Ngăn chặn và giảm dần các hoạt động kinh tế ngầm, kiểm soát chặt chẽ tình 
trạng buôn lậu, tình trạng bán hàng thu ngoại tệ trong nước. Cần có biện pháp hạn 
chế đến mức tối đa việc lưu thông và sử dụng đô la Mỹ, niêm yết giá bằng đô la 
Mỹ trên thị trường Việt Nam. 
Quá trình kiềm chế và đẩy lùi tình trạng đô la hoá thành công là một tiền đề 
cần thiết để Việt Nam có được một cơ chế tỷ giá hối đoái linh hoạt hơn. Với sự mở 
cửa của khu vực tài chính trong những năm tới và sự tự do hoá giao dịch tài khoản 
vốn, việc đạt được mục tiêu kiềm chế và đẩy lùi tình trạng đô la hoá là việc làm rất 
khó khăn. Muốn làm được cần phải có thời gian và có quyết tâm cao. Điều quan 
trọng là những mặt tích cực mang lại lợi ích của hiện tượng đô la hoá trên thị 
trường Việt Nam không bị xoá bỏ, nó tồn tại đan xen trong cơ chế thị trường mở 
cửa và hội nhập, được sử dụng như một giải pháp bổ sung trong chính sách tiền tệ 
tích cực của đất nước trong giai đoạn mới, còn những mặt tiêu cực của đô la hoá 
thì cần phải được kiềm chế, đẩy lùi và xoá bỏ. 
Đôla hóa nền kinh tế - Thực trạng và giải pháp 
Kinh tế vĩ mô 2 Page 21 
KẾT LUẬN 
Với sự mở cửa của khu vực tài chính trong những năm tới, việc kìm chế và 
đẩy lùi tình trạng đô la hóa sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Muốn làm được cần phải có 
thời gian và quyết tâm cao. Điều quan trọng là những mặt tích cực mang lại lợi ích 
của hiện tượng đô la hóa không bị xoá bỏ, nó tồn tại đan xen trong cơ chế thị 
trường mở cửa và hội nhập, được sử dụng như một giải pháp bổ sung trong chính 
sách tiền tệ tích cực của đất nước trong giai đoạn mới, còn những mặt tiêu cực của 
đô la hóa thì cần phải được kiềm chế, đẩy lùi và xoá bỏ. Và để hạn chế giảm tình 
trạng đôla hóa không phải có thể thực hiện trong thời gian ngắn, tuy nhiên trong 
bối cảnh tự do hóa tài chính và Việt Nam gia nhập WTO, thời gian này cần được 
rút ngắn nếu không nền kinh tế không phải lâm vào tình hình đôla hóa hoàn toàn, 
không còn khả năng bảo vệ trước những biến cố kinh tế kinh tế, khủng hoảng kinh 
tế trong khu vực và thế giới. 
Đôla hóa nền kinh tế - Thực trạng và giải pháp 
Kinh tế vĩ mô 2 Page 22 
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO: 
1.  
2.  
3.  
4. 
kinh-te/40041848/87/ 
5.  
6. 
381807 
7.  
8. 
53 
Đôla hóa nền kinh tế - Thực trạng và giải pháp 
Kinh tế vĩ mô 2 Page 23 
MỤC LỤC 
Lời mở đầu 
Chương 1: Cơ sở lý luận về hiện tượng đôla 
hóa.....2 
1.1 Khái 
niệm2 
1.2 Phân 
loại..2 
1.2.1 Căn cứ vào hình 
thức..2 
1.2.2 Căn cứ vào phạm 
vi3 
1.3 Nguyên nhân hiện tượng đôla 
hóa...4 
1.4 Những tác động của đôla 
hóa...5 
1.4.1 Tác động tích 
cực5 
1.4.2 Tác động tiêu 
cực7 
Chương 2: Đôla hóa tại Việt Nam – Thực trạng và giải 
pháp.9 
2.1 Thực trạng đôla hóa ở Việt 
Nam.9 
2.2 Nguyên nhân hiện tượng đôla hóa ở Việt 
Nam..13 
2.3 Một số giải pháp kiềm chế và đẩy lùi tình trạng đôla hóa ở Việt 
Nam..16 
Kết 
luận.
20 

File đính kèm:

  • pdftieu_luan_dola_hoa_nen_kinh_te_thuc_trang_va_giai_phap.pdf