Báo cáo Thực trạng số lao động được đào tạo nghề trên địa bàn huyện Củ Chi và hiệu quả của việc đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Việt Nam là quốc gia được đánh giá là một trong những nước đang phát triển nhưng còn nghèo trên thế giới và cũng là nước có dân số đông, đất nước ta phải gánh chịu hậu quả nặng nề của hai cuộc kháng chiến khắc nghiệt kéo dài, nên vấn đề đào tạo nghề cho người dân là một vấn đề rất quan trọng. chính vì những lý do trên nên ngay từ khi giành được độc lập năm 1975 và nhất là thời kỳ đổi mới đất nước năm 1986 thì một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu là phải đào tạo nghề cho người dân, để người dân có công việc làm tốt hơn và cải thiện thu nhập có cuộc sống ổn định hơn.
Hiện nay vấn đề đào tạo nghề là một vấn đề rất cấp thiết được toàn xã hội quan tâm nói chung và cho Ủy Ban nhân dân huyện Củ Chi nói riêng. Việc tạo ra nhiều nghề mới cho người dân là trách nhiệm của toàn xã hội khi mà Việt Nam gia nhập WTO thị trường của thế giới tạo điều kiện cho người lao động mở rộng nhiều nghề để họ phát huy hết khả năng của mình.
Củ Chi là huyện ngoại thành có tỷ lệ giảm nghèo trong những năm gần đây đạt cao và vững chắc, có tốc độ phát triển kinh tế tăng trưởng cao nhất trong 5 huyện ngoại thành của Thành phố Hồ Chí Minh 3 năm gần đây. Huyện Củ Chi cũng là nơi trung ương đã chọn là nơi xây dựng thí điểm mô hình xã nông thôn mới toàn diện.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Báo cáo Thực trạng số lao động được đào tạo nghề trên địa bàn huyện Củ Chi và hiệu quả của việc đào tạo nghề cho lao động nông thôn

Báo cáo thực tập tốt nghiệp PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Việt Nam là quốc gia được đánh giá là một trong những nước đang phát triển nhưng còn nghèo trên thế giới và cũng là nước có dân số đông, đất nước ta phải gánh chịu hậu quả nặng nề của hai cuộc kháng chiến khắc nghiệt kéo dài, nên vấn đề đào tạo nghề cho người dân là một vấn đề rất quan trọng. chính vì những lý do trên nên ngay từ khi giành được độc lập năm 1975 và nhất là thời kỳ đổi mới đất nước năm 1986 thì một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu là phải đào tạo nghề cho người dân, để người dân có công việc làm tốt hơn và cải thiện thu nhập có cuộc sống ổn định hơn. Hiện nay vấn đề đào tạo nghề là một vấn đề rất cấp thiết được toàn xã hội quan tâm nói chung và cho Ủy Ban nhân dân huyện Củ Chi nói riêng. Việc tạo ra nhiều nghề mới cho người dân là trách nhiệm của toàn xã hội khi mà Việt Nam gia nhập WTO thị trường của thế giới tạo điều kiện cho người lao động mở rộng nhiều nghề để họ phát huy hết khả năng của mình. Củ Chi là huyện ngoại thành có tỷ lệ giảm nghèo trong những năm gần đây đạt cao và vững chắc, có tốc độ phát triển kinh tế tăng trưởng cao nhất trong 5 huyện ngoại thành của Thành phố Hồ Chí Minh 3 năm gần đây. Huyện Củ Chi cũng là nơi trung ương đã chọn là nơi xây dựng thí điểm mô hình xã nông thôn mới toàn diện. Một trong những thế mạnh của Củ Chi là đào tạo nghề, giải quyết việc làm và giảm hộ nghèo tăng hộ khá đồng bộ đến tất cả các vùng nông thôn. Để thực hiện các dự án công nghiệp trên địa bàn huyện sau khi chuyển đổi đã nhận tiền đền bù, phần thì chưa chuyển theo kịp phương thức mới trong sản xuất hoặc mất đất sản xuất; phần vì con em thất nghiệp do chuyển đổi nghề mới làm cho đời sống giảm sút, kéo theo những tệ nạn đô thị bắt đầu tấn công vào các vùng nông thôn trong quá trình đô thị hóa nhanh. Trang 1 Báo cáo thực tập tốt nghiệp Chính vì thế trong nhiều năm qua tại địa bàn, Huyện Ủy đã tập trung cao độ cho chỉ đạo công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Thực hiện Quyết định số 81/QĐ- TTg ngày 14/04/2006 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ dạy nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn năm 2006. Đến năm 2009 đã đào tạo được 925 học viên tham gia các lớp học nghề ngắn hạn chương trình mục tiêu quốc gia, với tổng kinh phí là 708.485.000 đồng từ ngân sách Trung ương (NSTW) cụ thể như sau: Năm 2007: Đào tạo được 186 học viên, kinh phí 180.000.000 đồng (từ NS TW) Năm 2008: Đào tạo được 189 học viên, kinh phí 200.000.000 đồng (từ NS TW) Năm 2009: Đào tạo được 550 học viên, kinh phí 328.485.000 đồng.(từ NS TW). Năm 2010: Đào tạo được 203 học viên, kinh phí 120.000.000 đồng.(từ NS TW). Năm 2011: Đào tạo được 1.059 học viên, kinh phí 467.045.000 đồng.(từ NS TW). Chính vì những điều đó nên em chọn đề tài “Thực trạng và giải pháp đào tạo nghề cho lao động nông thôn huyện Củ Chi (2010 - 2015)” làm đề tài báo cáo thực tập tốt nghiệp và nhằm góp một phần vào việc thực hiện công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại địa phương. 2. Mục tiêu nghiên cứu Làm rõ vai trò và sự cần thiết của đào tạo nghề cho lao động nông thôn trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội, đề xuất một số giải pháp thiết thực nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện Củ Chi trong thời gian tới. Nhằm thực hiện công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn ngày càng phát triển và đạt được hiệu quả cao. 3. Phạm vi nghiên cứu Đề tài khóa luận chỉ tập trung nghiên cứu vấn đề đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện Củ Chi trên cơ sở lý luận chung và thực tiễn tình hình Trang 2 Báo cáo thực tập tốt nghiệp trong nước liên quan đến công tác đào tạo nghề như giải quyết việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển kinh tế – xã hội ở nông thôn trong thời kỳ hội nhập. Thực trạng số lao động được đào tạo nghề trên địa bàn huyện Củ Chi và hiệu quả của việc đào tạo nghề cho lao động nông thôn. 4. Phương pháp nghiên cứu Điều tra, khảo sát, thu thập tài liệu và số liệu phục vụ nghiên cứu. Thống kê, phân tích; phân tích tài liệu và số liệu thông kê. Tổng hợp Trang 3 Báo cáo thực tập tốt nghiệp PHẦN NỘI DUNG Chương 1: Cơ sở lý luận công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn huyện Củ Chi. 1.1. Khái niệm lao động Lao động là sự tiêu dùng sức lao động trong hiện thực. Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm tạo ra các sản phẩm phục vụ cho các nhu cầu của đời sống xã hội. Lao động là hoạt động đặc trưng nhất, là hoạt động sáng tạo của con người. 1.2. Khái niệm việc làm Theo tổ chức lao động Quốc tế, người có việc làm là người đang làm một công việc gì đó được trả tiền công hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự thỏa mãn lợi ích hay thay thế thu nhập của gia đình. Tại điều 13 của Bộ luật lao động được Quốc hội thông qua năm 1984 đã khẳng định: “Mọi hoạt động lao động tạo ra thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”. Như vậy, trong điều kiện hiện nay có thể hiểu: “Việc làm là hoạt động lao động có ích không bị pháp luật ngăn cấm, tạo thu nhập hoặc lợi ích cho bản thân gia đình người lao động hoặc cho một cộng đồng nào đó”. 1.3. Khái niệm đào tạo nghề Theo Bộ Lao động – Thương binh Xã hội xuất bản năm 2012 thì khái niệm đào tạo nghề được hiểu: “Đào tạo nghề là hoạt động nhằm trang bị cho người lao động những kiến thức, kỹ năng và thái độ lao động cần thiết để người lao động sau khi Trang 4 Báo cáo thực tập tốt nghiệp hoàn thành khóa học, học viên học được một nghề trong Xã hội”. (Đỗ Thanh Bình 2003). Theo giáo trình Kinh tế Lao động của trường Đại học Kinh tế Quốc dân thì khái niệm: “Đào tạo nghề là quá trình trang bị kiến thức nhất định về chuyên môn nghiệp vụ cho người lao động để họ đảm bảo được một số công việc nhất định” 1.4. Khái quát về đào tạo nghề cho lao động nông thôn Đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa nông nghiệp và công nghiệp hóa đất nước, vì sự phát triển tiến lên giàu có của nông dân, chúng ra nhất định phải tiến hành đào tạo chuyển nghề cho lao động nông thôn và đào tạo nâng cao trình độ cho nông dân còn tiếp tục làm nông nghiệp. Cơ sở, trường lớp đào tạo hiện còn chưa đáp ứng, cái khó nhất là đào tạo lao động phi nông nghiệp có việc làm và thu nhập ổn định cao hơn làm ruộng ở vùng quê. Lao động sau đào tạo chủ yếu làm việc tại các doanh nghiệp, có thể ở thành phố, thị xã, đô thị nhỏ làm việc trong doanh nghiệp ở nông thôn và đầu tư vào nông nghiệp đang là thách thức lớn. Theo thống kê chưa thật đầy đủ, ở nước ta hiện nay có gần 40 nghìn doanh nghiệp hoạt động ở nông thôn trong đó chỉ có gần 1500 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản chiếm 3,7% số doanh nghiệp hoạt động ở nông thôn. Vốn đầu tư số doanh nghiệp trên có khoảng 32 nghìn tỉ đồng chiếm 6% vốn của doanh nghiệp đầu tư ở nông thôn và chỉ có 0,9% vốn của các doanh nghiệp trong nước. Vì vậy mấy năm gần đây, nhất là năm 2010, Chính phủ đã có chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất nông nghiệp, nông thôn. Cần phải coi đây là công việc thường xuyên, lâu dài về việc đào tạo chuyển nghề cho lao động nông thôn gắn đào tạo chuyển nghề với doanh nghiệp. Thực hiện Nghị quyết Trung ương lần thứ 7 về nông nghiệp, nông dân và nông thôn, tháng 10 – 2008, Chính phủ đã ra nghị quyết ban hành chương trình hành động của Chính phủ, trong đó có mục tiêu: tập trung đào tạo nguồn nhân lực ở nông thôn, Trang 5 Báo cáo thực tập tốt nghiệp chuyển một bộ phận lao động nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, giải quyết việc làm nhằm nâng cao thu nhập một bước cho người nông dân. Nhằm cụ thể hóa chương trình hành động trên, tháng 11 – 2009 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” (gọi tắt là Đề án 1956). Đề án nêu rõ quan điểm của Đảng, Nhà nước ta là đào tạo nghề cho lao động nông thôn là sự nghiệp của Đảng và Nhà nước, của các cấp, các ngành và xã hội nhằm nâng cao chất lượng lao động nông thôn, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Nhà nước tăng cường đầu tư để phát triển đào tạo nghề cho lao động nông thôn, có chính sách bảo đảm thực hiện công bằng xã hội về cơ hội học nghề đối với mọi lao động nông thôn, khuyến khích huy động và tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Đây là cơ sở hành lang pháp lý để các hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn phát triển nhằm nâng cao chất lượng lao động nông thôn. Đề án đào tạo nghề cho lao động là đề án có tính xã hội và nhân văn sâu sắc do đó nhận được sự đồng thuận của rất cao các tầng lớp nhân dân. Sau hai năm đề án đã đi vào cuộc sống, tùy theo điều kiện kinh tế - xã hội, các ngành, các địa phương đã có những hoạt động thiết thực, sáng tạo, tạo ra nhiều mô hình dạy nghề và hình thức dạy nghề thích hợp. Một số mô hình bước đầu triển khai có hiệu quả. Hoạt động dạy nghề cho lao động nông thôn không chỉ huy động các cơ sở chuyên dạy nghề mà còn huy động được “chất xám” của các viện nghiên cứu, các trường đại học, huy động được sự tham gia giảng dạy của những lao động kỹ thuật từ các doanh nghiệp, các nghệ nhân trong các làng nghề. Qua thí điểm một số mô hình đào tạo nghề cho lao động chuyên canh ở một số địa phương vùng đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long hoặc Trung du miền núi như Lạng Sơn, Cao Bằng, Tây Ninh, Gia Lai... cho thấy kỹ năng nghề của nông dân được nâng lên, do đó năng suất lao động, chất lượng cây trồng và thu nhập của người lao động tăng lên rõ rệt. Những kết quả bước đầu Trang 6 Báo cáo thực tập tốt nghiệp này đã tạo động lực để thu hút những lao động nông thôn khác trong thôn bản tham gia các khóa đào tạo nghề được tổ chức tại địa bàn. Tuy nhiên, theo Tiến sĩ Nguyễn Tiến Trường, Tổng cục trưởng Tổng cục dạy nghề: Để các hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn thật sự đi vào cuộc sống, tạo được sự đồng thuận cao của người dân, cần lưu ý một số vấn đề: Thứ nhất, đào tạo nghề cho lao động nông thôn phải xuất phát từ nhu cầu sử dụng lao động thật sự của các doanh nghiệp trên địa bàn; đồng thời dựa trên nhu cầu thực tế về nghề nghiệp của người dân, chứ không phải là các hoạt động có tính phong trào, nhất thời. Vì vậy, cần nắm chắc được các nhu cầu (theo từng nghề, nhóm nghề, vị trí công việc...) của người dân ở từng địa phương (xã, huyện) và của doanh nghiệp, thông qua điều tra khảo sát nhu cầu. Thứ hai, cần phải có sự “vào cuộc” của cả hệ thống chính ở địa phương. Thực tế thời gian vừa qua cho thấy, ở địa phương nào có sự quan tâm của cấp ủy đảng, sự chỉ đạo quyết liệt của chính quyền và sự tham gia tích cực của các tổ chức chính trị - xã hội... thì ở địa phương đó, công tác dạy nghề cho lao động nông thôn đạt được kết quả mong muốn. Thứ ba, do tính đa dạng vùng miền và tính đặc thù của người nông dân và lao động nông thôn (trình độ học vấn không đều, lao động theo mùa vụ, thói quen canh tác...) nên việc tổ chức các khóa đào tạo phải rất linh hoạt về chương trình đào tạo, hình thức đào tạo, phương thức đào tạo, phương pháp truyền đạt... Thứ tư, đào tạo nghề cho lao động nông thôn phải gắn với giải quyết việc làm, chuyển dịch cơ cấu lao động, gắn với xóa đói, giảm nghèo và góp phần bảo đảm an sinh xã hội ở nông thôn; gắn với xây dựng nông thôn mới. Trong quá trình thực hiện, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền địa phương, các cơ sở đào tạo và doanh nghiệp. Thực tế thời gian qua cho thấy, ở nơi nào có sự phối hợp tốt giữa các đối tác này thì đào tạo nghề đạt được kết quả rất tích cực, Trang 7 Báo cáo thực tập tốt nghiệp người dân có việc làm, năng suất lao động và thu nhập của người dân được nâng lên, giảm nghèo bền vững. 1.5. Vai trò và tầm quan trọng của việc đào tạo nghề cho lao động nông thôn Ở Việt Nam hiện nay, đào tạo nghề cho người lao động trước hết sẽ tạo điều kiện để khai thác tối đa những nguồn lực quan trọng còn đang tìm ẩn như tài nguyên vốn, ngành nghề. Khi người lao động có tay nghề sẽ mang lại thu nhập cao cho bản thân họ và từ đó tạo ra được nhiều tích lũy. Nhà nước sẽ không phải chi trả trợ cấp cho những cho người nghèo không có tay nghề thu nhập thấp mà khi đào tạo nghề cho họ, họ sẽ đóng góp một phần vốn vào nguồn vốn tích lũy của nền kinh tế quốc dân. Mặt khác, khi người lao động có thu nhập cao, họ sẽ tăng tiêu dùng từ đó sẽ làm tăng sức mua cho toàn xã hội dẫn đến tác động cung – cầu của nền kinh tế tăng lên kích thích sự phát triển của sản xuất, tăng trưởng kinh tế. Đại bộ phận dân cư có mức sống thấp, người lao động cần có nghề để phát triển nâng cao thu nhập để trang trải cuộc sống gia đình và bản thân. Vì vậy đào tạo nghề ở Việt Nam trong tình trạng hiện nay có ý nghĩa rất to lớn đối với quá trình phát triển kinh tế, góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng và nâng cao thu nhập quốc dân. 1.6. Các yếu tố tác động đến đào tạo nghề cho lao động nông thôn: 1.6.1. Chính sách của nhà nước Thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước về công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh nói chung và cho huyện Củ Chi nói riêng trong giai đoạn vừa qua từng bước nâng cao số lượng và chất lượng nghề được đào tạo đảm bảo đầu ra góp phần vào tăng trưởng kinh tế và ổn định xã hội một cách đáng kể. Tuy nhiên vẫn còn hiện tượng một bộ phận dân cư trong lực lượng lao động vẫn tiếp tục làm những ngành nghề truyền thống thu nhập thấp không ổn định. Chịu sự tác động của nhiều nhân tố do đó muốn đào tạo nghề một cách căn Trang 8 Báo cáo thực tập tốt nghiệp cơ và có hiệu quả đòi hỏi vấn đề phải được nghiên cứu, phân tích tìm nguyên nhân và từ đó kết hợp với những tình hình thực tế và đề ra những giải pháp khả thi phù hợp với đặc điểm của địa phương. 1.6.2. Điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội của địa phương Trong những năm qua, do đổi mới cơ chế quản lý phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần đã tạo ra điều kiện thuận lợi và nhân tố mới, đa dạng các ghành, các cấp, các đơn vị cơ sở, các tổ chức xã hội và toàn dân chủ động tìm nhiều ngành nghề phù hợp với thực tế địa phương đã giải quyết được một bước yêu cầu về nhu cầu đào tạo nghề và cải thiện đời sống người lao động, góp phần ổn định kinh tế, chính trị, xã hội. Kính tế - xã hội, xuất phát từ nguyện vọng chính đáng của người lao động mà các cấp không ngừng quan tâm đến đào tạo nghề cũng như phát triển các nguồn lực và sử dụng có hiệu quả nguồn lao động thông qua các chương trình mục tiêu giảm hộ nghèo tăng hộ khá và đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Chương 2: Thực trạng công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn huyện Củ Chi. 2.1. Đặc điểm về tự nhiên, kinh tế - xã hội có ảnh hưởng đến công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn huyện Củ Chi. 2.1.1. Đặc điểm tự nhiên: 2.1.1.1. Vị trí địa lý kinh tế Củ Chi là Huyện ngoại thành nằm phía Tây Bắc thành phố Hồ Chí Minh trong suốt 30 năm chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Củ Chi là địa bàn tranh chấp quyết liệt giữa lực lượng cách mạng và quân xâm lược, bọn ác ôn. Kẻ thù gọi Củ Chi là vùng đất thánh của cộng sản, bởi vì nơi đây, trong suốt 30 năm thay nhau đặt ách thống trị lên miền nam Việt Nam, kẻ thù chưa bao giờ kiểm soát được Củ Chi. Trong Trang 9 Báo cáo thực tập tốt nghiệp lòng dân tộc, Củ Chi là một bản anh hùng ca bất diệt về pháo đài thép. Đế quốc Mỹ đã trút xuống đây khoảng 240.000 tấn bom đạn, trong đó có cả bom B52 và chất độc màu da cam, chúng tổ chức hơn 5.000 trận hành quân bố ráp hòng tiêu diệt quân dân Củ Chi. Nhân dân Củ Chi kiên trì bám đất, giữ làng đánh giặc, đã đưa trên 18.000 con em của mình tham gia kháng chiến, trực tiếp đào địa đạo, cài hầm chông, không ngại hy sinh gian khổ, chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Ngày miền nam hoàn toàn giải phóng, mặt đất Củ Chi không còn nơi nào lành lặn, hàng chục ngàn hố bom loan lỗ trên mặt đất, cỏ Mỹ mọc tràn lan, lòng đất đầy rẫy bom mìn. Hơn 10.000 ngàn con em đã hy sinh, hơn 2.000 thương binh và hàng ngàn người bị thương tích do chiến tranh. Nhân dân Củ Chi trở về vườn đất cũ với hai bàn tay trắng, cùng nhau khai hoang vỡ đất. Cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng hầu như chẳng có gì, nhất là 6 xã phía bắc vùng giải phóng cũ. Đời sống nhân dân hết sức khó khăn, đa số là nhà tranh vách đất, nhiều hộ ăn độn khoai, huyện phải xin thành phố hỗ trợ lương thực để cứu đói cho gần 30.000 lượt người. Nhân dân Củ Chi đã không ngại hy sinh gian khổ đấu tranh giành độc lập tự do. Thắng lợi mùa xuân năm 1975 đã đem đến cho người dân niềm tin mãnh liệt về tương lai tươi sáng, xây dựng đất nước tươi đẹp hơn, đàng hoàn hơn như ý nguyện của Chủ Tịch Hồ Chí Minh và của cả dân tộc. Hồ hỡi trước thắng lợi vĩ đại của đất nước, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân phấn khởi bắt tay hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng xóm làng, mặc dù phải đối mặt với bao khó khăn. Cuộc chiến đấu mới này tuy không có tiếng súng nhưng không kém phần gian nan. Tất cả mọi người chống chọi với mọi vấn đề xảy ra, vấn đề về việc làm hết sức khó khăn phần lớn là người lao động chưa có ngành nghề hoặc học vấn còn thấp nên việc đào tạo nghề còn gặp nhiều trở ngại. Trong thời gian nghiên cứu và tìm hiểu về nguồn lao động và vấn đề đào tạo nghề tại huyện Củ Chi em rút ra cho mình những suy nghĩ cũng như trong thực tiễn, Trang 10
File đính kèm:
bao_cao_thuc_trang_so_lao_dong_duoc_dao_tao_nghe_tren_dia_ba.doc