Luận văn Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu xăng dầu của Công ty xăng dầu Quân đội

Đất nước ta sau 15 năm đổi mới đã thu được những thành tựu to lớn và rất quan trọng, đang tiến bước vào thời kỳ Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước Cùng với xu thế hội nhập của nền kinh tế thế giới hiện nay, nước ta đã và đang tích cực chủ động tham gia hiệu quả vào các tổ chức khu vực và thế giới như: ASEAN, AFTA, APEC và đặc biệt là thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Ngày 7/11/2006 là bước ngoặt đánh dấu bước phát triển mới của Việt Nam, có ý nghĩa quan trọng trong việc thiết lập môi trường buôn bán, quan hệ hợp tác kinh tế với toàn thế giới.

Xăng dầu là mặt hàng chiến lược có vai trò chi phối với tất cả các ngành trong nền kinh tế và đời sống xã hội dân cư và là mặt hàng nhập khẩu gần như hoàn toàn nên phụ thuộc rất lớn về cung và giá cả vào thị trường thế giới. Từ đầu năm 2004 đến nay, giá xăng dầu trên thị trường thế giới liên tục biến động tăng và ở mức cao ảnh hưởng rất lớn đến giá cả trong nước cũng như chính sách kiềm chế và ổn định lạm phát của Chính phủ. Công ty xăng dầu Quân đội là một trong mười một đơn vị được phép nhập khẩu xăng dầu của cả nước, trải qua các năm hoạt động Công ty cũng đã không ngừng cố gắng trong việc tìm hướng khai khác, tìm hiểu thị trường nâng cao hiệu quả nhập khẩu và quy mô kinh doanh để hoàn thành nhiệm vụ nhập khẩu xăng dầu do Bộ Thương mại cấp Quota và đáp ứng nhu cầu xăng dầu phục vụ quốc phòng và kinh tế.

Tuy nhiên do những biến động khách quan của thị trường thế giới cũng như những nhân tố chủ quan của Công ty như khả năng tích luỹ tài chính còn hạn chế, đối tác kinh doanh cũng chưa đa dạng và còn chịu sự chi phối của chính sách nhập khẩu của Nhà nước nên Công ty gặp nhiều khó khăn trong quá trình nhập khẩu, xây dựng chiến lược kinh doanh để phát triển quy mô kinh doanh.

Nhằm tháo gỡ những khó khăn và nâng cao hơn nữa hoạt động kinh doanh nhập khẩu của Công ty xăng dầu Quân đôi, đòi hỏi cần phải có những giải pháp thích hợp. Vì lý do đó, đề tài luận văn: “Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu xăng dầu của Công ty xăng dầu Quân đội” đã được lựa chọn và nghiên cứu.

doc 81 trang Minh Tâm 28/03/2025 160
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu xăng dầu của Công ty xăng dầu Quân đội", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Luận văn Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu xăng dầu của Công ty xăng dầu Quân đội

Luận văn Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu xăng dầu của Công ty xăng dầu Quân đội
LỜI MỞ ĐẦU 
1. Tính cấp thiết của việc lựa chọn đề tài
 Đất nước ta sau 15 năm đổi mới đã thu được những thành tựu to lớn và rất 
quan trọng, đang tiến bước vào thời kỳ Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước 
Cùng với xu thế hội nhập của nền kinh tế thế giới hiện nay, nước ta đã và đang tích 
cực chủ động tham gia hiệu quả vào các tổ chức khu vực và thế giới như: ASEAN, 
AFTA, APEC và đặc biệt là thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới 
(WTO). Ngày 7/11/2006 là bước ngoặt đánh dấu bước phát triển mới của Việt Nam, 
có ý nghĩa quan trọng trong việc thiết lập môi trường buôn bán, quan hệ hợp tác 
kinh tế với toàn thế giới.
 Xăng dầu là mặt hàng chiến lược có vai trò chi phối với tất cả các ngành trong nền 
kinh tế và đời sống xã hội dân cư và là mặt hàng nhập khẩu gần như hoàn toàn nên 
phụ thuộc rất lớn về cung và giá cả vào thị trường thế giới. Từ đầu năm 2004 đến 
nay, giá xăng dầu trên thị trường thế giới liên tục biến động tăng và ở mức cao ảnh 
hưởng rất lớn đến giá cả trong nước cũng như chính sách kiềm chế và ổn định lạm 
phát của Chính phủ. Công ty xăng dầu Quân đội là một trong mười một đơn vị được 
phép nhập khẩu xăng dầu của cả nước, trải qua các năm hoạt động Công ty cũng đã 
không ngừng cố gắng trong việc tìm hướng khai khác, tìm hiểu thị trường nâng cao 
hiệu quả nhập khẩu và quy mô kinh doanh để hoàn thành nhiệm vụ nhập khẩu xăng 
dầu do Bộ Thương mại cấp Quota và đáp ứng nhu cầu xăng dầu phục vụ quốc 
phòng và kinh tế. 
 Tuy nhiên do những biến động khách quan của thị trường thế giới cũng như những 
nhân tố chủ quan của Công ty như khả năng tích luỹ tài chính còn hạn chế, đối tác 
kinh doanh cũng chưa đa dạng và còn chịu sự chi phối của chính sách nhập khẩu 
của Nhà nước nên Công ty gặp nhiều khó khăn trong quá trình nhập khẩu, xây dựng 
chiến lược kinh doanh để phát triển quy mô kinh doanh.
Nhằm tháo gỡ những khó khăn và nâng cao hơn nữa hoạt động kinh doanh nhập 
khẩu của Công ty xăng dầu Quân đôi, đòi hỏi cần phải có những giải pháp thích 
hợp. Vì lý do đó, đề tài luận văn: “Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh 
doanh nhập khẩu xăng dầu của Công ty xăng dầu Quân đội” đã được lựa chọn 
và nghiên cứu.
 2. Mục đích nghiên cứu
 Trên cơ sở phân tích và đánh giá thực trạng công tác nhập khẩu của Công ty xăng 
dầu Quân đội, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động 
kinh doanh nhập khẩu xăng dầu của Công ty.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
 - Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu hoạt động kinh doanh nhập khẩu xăng 
dầu của Công ty xăng dầu Quân đội.
 - Phạm vi nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu hoạt động kinh doanh nhập 
khẩu xăng dầu của Công ty xăng dầu Quân đội từ giai đoạn 2002 đến nay.
4. Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích và so sánh. Các số liệu phục vụ quá trình 
nghiên cứu lấy từ sách báo, tạp chí có liên quan tới chuyên đề.
5. Nội dung nghiên cứu
Ngoài lời mở đầu, kết luận, mục lục luận văn được kết cấu thành 3 chương
Chương1: Lý luận cơ bản về hoạt động kinh doanh nhập khẩu và sự cần thiết phải 
nâng cao hiệu quả nhập khẩu xăng dầu của Công ty xăng dầu Quân đội
Chương2: Thực trạng hoạt động kinh doanh nhập khẩu của Công ty xăng dầu Quân 
đội
Chương3: Phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh 
doanh nhập khẩu xăng dầu của Công ty xăng dầu Quân đội 
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG
 KINH DOANH NHẬP KHẨU VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO HIỆU 
QUẢ NHẬP KHẨU XĂNG DẦU CỦA CÔNG TY XĂNG DẦU QUÂN ĐỘI
1.1 Một số vấn đề cơ bản về hoạt động kinh doanh nhập khẩu và sự cần thiết 
phải nâng cao hiệu quả nhập khẩu xăng dầu
 1.1.1 Khái niệm, mục tiêu và vai trò của hoạt động nhập khẩu
 1.1.1.1 Khái niệm nhập khẩu
Nhập khẩu hàng hoá là một nghiệp vụ quan trọng trong hoạt động kinh doanh 
thương mại quốc tế. Đó là việc mua bán hàng hoá từ các tổ chức kinh tế, các công 
ty nước ngoài và tiến hành tiêu thụ hàng hoá nhập khẩu tại thị trường nội địa hoặc 
tái xuất khẩu với mục đích thu lợi nhuận, nối liền quá trình sản xuất với tiêu dùng.
 1.1.1.2 Mục tiêu của hoạt động nhập khẩu
Khác với các hoạt động mua bán trong nước, nhập khẩu là hoạt động kinh doanh 
buôn bán trên phạm vi quốc tế, được thực hiện giữa các chủ thể kinh tế ở các quốc 
gia khác nhau, nó là cả một hệ thống các quan hệ mua bán trong một nền thương 
mại có tổ chức cả bên trong và bên ngoài.
Mục tiêu của hoạt động nhập khẩu là việc sử dụng có hiệu quả khối lượng ngoại tệ 
tiết kiệm được để nhập khẩu các nguồn vật tư, hàng hoá phục vụ cho quá trình tái 
sản xuất mở rộng và nhu cầu tiêu dùng của nhân dân, đồng thời đảm bảo cho sự 
phát triển đồng bộ, nâng cao năng suất lao động, bảo vệ các ngành sản xuất trong 
nước, giải quyết sự khan hiếm của thị trường nội địa. Bên cạnh đó, thông qua công 
tác nhập khẩu để đảm bảo cho sự phát triển ổn định của các ngành kinh tế mũi nhọn 
mà khả năng trong nước chưa cung cấp đủ nguyên liệu cho chúng, tạo ra những 
nguồn lực mới cho sản xuất, khai thác triệt để lợi thế so sánh của quốc gia mình 
nhằm kết hợp hài hoà giữa nhập khẩu và cán cân thanh toán.
1.1.1.3 Vai trò của hoạt động nhập khẩu đối với nền kinh tế quốc dân
Nhập khẩu là một bộ phận không thể tách rời của thương mại quốc tế, nó tác động 
trực tiếp đến sản xuất và đời sống của mỗi quốc gia. Nhập khẩu thể hiện mối quan 
hệ kinh tế, mức độ phụ thuộc gắn bó lẫn nhau giữa nền kinh tế nước ta với nền kinh 
tế các nước trên thế giới. Nó tác động tích cực đến sự phát triển cân đối và khai thác 
tiềm năng, thế mạnh của nền kinh tế mỗi quốc gia về sức lao động, vốn, tài nguyên, 
khoa học kỹ thuật 
Với xu thế của nền kinh tế thế giới hiện nay, Việt Nam cũng như các quốc gia khác 
đang không ngừng mở rộng quan hệ buôn bán quốc tế, sự phụ thuộc lẫn nhau trong 
quan hệ kinh tế quốc tế ngày càng lớn mạnh cùng với việc hình thành trung tâm 
thương mại, khối mậu dịch tự do đã chứng tỏ việc lưu chuyển hàng hoá giữa các 
quốc gia không ngừng được cải thiện và nâng cao. Khi đó vai trò của hoạt động 
nhập khẩu có ý nghĩa rất lớn đối với việc ổn định và phát triển kinh tế quốc gia nói 
riêng và phát triển nền kinh tế thế giới nói chung.
Thứ nhất, nhập khẩu là cơ sở để bổ sung hàng hoá trong nước không sản xuất được 
hoặc sản xuất được nhưng không đủ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước, ngoài ra 
nhập khẩu còn làm đa dạng hoá hàng hoá như chủng loại, chất lượng cho phép thoả 
mãn nhu cầu trong nước. Nhập khẩu tăng cường sự chuyển giao công nghệ, tạo sự 
cạnh tranh vượt bậc của nền sản xuất xã hội, tiết kiệm được chi phí và thời gian hạ 
giá thành sản phẩm; đồng thời nhập khẩu tạo ra sự cạnh tranh giữa hàng nội và hàng 
nhập ngoại, tức là tạo ra động lực buộc các nhà sản xuất trong nước không ngừng 
cải tiến và thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển, hạ 
Thứ hai, nhập khẩu tạo điều kiện đẩy nhanh quá trình xây dựng cơ sở vật chất, 
chuyển dịch cơ cấu theo từng bước Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước. 
Thông qua hoạt động nhập khẩu mà các doanh nghiệp hay cơ sở sản xuất có thể học 
hỏi kinh nghiệm sản xuất từ phía đối tác để từ đó đầu tư mua sắm trang thiết bị dây 
chuyền công nghệ nhằm sản xuất các mặt hàng nhập khẩu ngay tại trong nước. Việc 
đầu tư này giúp doanh nghiệp giảm giá thành sản phẩm hơn so với hàng nhập. 
Người tiêu dùng thì có lợi vì mua sản phẩm được với giá rẻ hơn mà chất lượng thì 
tương đương hàng ngoại, còn nhà sản xuất thì giảm được chi phí, có thể dung phần 
vốn đó để tái sản xuất hay đầu tư vào lĩnh vực khác mà cũng mang lại lợi nhuận.
Thứ ba, nhập khẩu góp phần cải thiện và nâng cao mức sống của nhân dân. Nhập 
khẩu vừa thoả mãn nhu cầu trực tiếp của nhân dân về mặt hàng tiêu dùng, vừa đảm 
bảo đầu vào cho sản xuất, tạo việc làm ổn định cho người lao động. Hoạt động nhập 
khẩu giúp người dân có thể tiếp cận với những nền kinh tế cao hơn thông qua các 
sản phẩm mà trong nước chưa sản xuất được. Quá trình nhập khẩu cũng qua nhiều 
khâu, vì vậy tạo điều kiện cho nhiều người tham gia và chuyên môn cũng khác 
nhau.
Thứ tư, nhập khẩu có vai trò tích cực thúc đẩy sản xuất, thể hiện ở chỗ nhập khẩu 
tạo điều kiện phát triển đầu vào cho hàng xuất khẩu, tạo môi trường thuận lợi cho 
việc xuất khẩu hàng hoá Việt Nam ra nước ngoài. Ở Việt Nam hiên nay, hàng xuất 
khẩu chủ yếu là các mặt hàng có công nghệ thấp như lương thực, giày da, may 
mặc Các mặt hàng này mang lại lợi nhuận không cao, lãi nhiều thì đầu vào của 
chúng ta còn thiếu. Chính vì thế thông qua hoạt động nhập khẩu chúng ta có thể 
nhập vào những nguyên vật liệu và từ đó sản xuất ra thành phẩm ngay tại trong 
nước. Bên cạnh đó, nhờ thực hiện các giao dịch trong quá trình nhập khẩu mà có thể 
hình thành các mối quan hệ đa chiều với các đối tác ở nhiều nước trên thế giới. 
Thứ năm, thông qua việc phát triển kinh doanh nhập khẩu, chúng ta mới có điều 
kiện mở mang dân trí, tiếp thu tiến bộ khoa học kỹ thuật mới để đầu tư vào sản xuất 
và phục vụ đời sống. Trên cơ sở phân công lao động quốc tế, hợp tác và liên kết 
quốc tế để đẩy mạnh kết hợp giữa công nghiệp với cuộc sống văn minh của nhân 
loại, tạo điều kiện khai thác có hiệu quả tiềm năng và thế mạnh của đất nước.
Nhờ có hoạt động nhập khẩu mà các doanh nghiệp trong nước có cơ hội tham gia 
cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Khi tham gia cạnh tranh bắt buộc các doanh 
nghiệp phải hình thành một chiến lược sản xuất kinh doanh phù hợp với thị trường, 
đồng thời hoàn thiện tốt công tác quản lý phù hợp với xu thế chung nhằm tạo ra 
nhiều cơ hội mới thông qua quan hệ với các đối tác nước ngoài trên cơ sở lợi ích 
của cả hai bên.
Phát huy được vai trò của hoạt động nhập khẩu là một vấn đề không đơn giản, nó 
đòi hỏi các doanh nghiệp phải có sự lựa chọn đúng đắn để xác định rõ các nhân tố 
ảnh hưởng đến hoạt động nhập khẩu, có như thế mới khai thác được các lợi thế so 
sánh và đạt hiệu quả cao nhất.
1.1.2 Các hình thức nhập khẩu
 1.1.2.1 Nhập khẩu uỷ thác 
Nhập khẩu uỷ thác là việc doanh nghiệp này uỷ thác cho doanh nghiệp khác đứng ra 
giao dịch trực tiếp với đối tượng nước ngoài để làm thủ tục nhập khẩu và nhận được 
một khoản phí hoa hồng gọi là khoản phí uỷ thác. Hình thức này được sử dụng khi 
một bên thì có vốn, còn một bên thì có kinh nghiệm.
Hình thức này có ưu điểm là doanh nghiệp uỷ thác chỉ cần bỏ thêm một khoản tiền 
để trả cho người được uỷ thác mà không phải tham gia vào bất kỳ một quá trình nào 
của hoạt động nhập khẩu. Đồng thời tránh được các rủi ro do chính bản thân mình 
gây ra khi thực hiện hoạt động nhập khẩu này. Những tổn hại do bên được uỷ thác 
phải chịu trách nhiệm. 
Tuy nhiên nhược điểm của nó là bên uỷ thác sẽ phải mất một số tiền nhất định mà 
nếu tự làm thì họ sẽ giảm được chi phí nhập khẩu và việc lựa chọn được bên nhận 
uỷ thác thực sự có đủ năng lực thay họ làm công việc nhập khẩu cũng gặp nhiều 
khó khăn.
1.1.2.2 Nhập khẩu tự doanh
Đây là hoạt động nhập khẩu trực tiếp của một đơn vị kinh tế được phép nhập khẩu 
độc lập. Khi doanh nghiệp tự cảm thấy có thể nhập khẩu độc lập mặt hàng nào đó 
thì sẽ sử dụng hình thức này sẽ thu được mọi khoản lợi nhuận nhưng cũng phải chịu 
mọi tổn thất do hoạt động này gây nên.
Hình thức nhập khẩu này đòi hỏi doanh nghiệp cần xem xét kỹ lưỡng từng bước, từ 
nghiên cứu thị trường, đầu vào, đầu ra cho đến ký kết và thực hiện hợp đồng để 
tránh gây tổn thất.
 1.1.2.3 Nhập khẩu hàng đổi hàng
Đây là hình thức nhập khẩu được áp dụng đối với các nước có mối quan hệ thân 
quen, mang tính hỗ trợ nhau. Nó là hình thức nhập khẩu gắn liền với xuất khẩu, 
thanh toán trong trường hợp này không dùng đến tiền mà sử dụng khối lượng hàng 
hoá có giá trị tương đương để trao đổi.
Đặc điểm của hình thức nhập khẩu hàng đổi hàng:
Thứ nhất, hoạt động nhập khẩu này mang lại lợi ích lớn hơn cho các bên liên quan 
bởi cùng một hợp đồng mà có thể tiến hành cùng một lúc cả hoạt động xuất và 
nhập, do đó có thể thu lãi từ cả hai hoạt động này. 
Thứ hai, hàng hoá xuất và nhập tương đương nhau về giá trị.
Thứ ba, bạn hàng trong hoạt động xuất khẩu cũng là bạn hàng trong hoạt động nhập 
khẩu.
Nhược điểm của hình thức nhập khẩu hàng đổi hàng là nghiệp vụ rất phức tạp vì 
xuất khẩu kết hợp với nhập khẩu, người mua đồng thời là người bán nên khó tách 
bạch được quyền lợi và nghĩa vụ nếu xảy ra sai sót.
 1.1.2.4 Nhập khẩu liên doanh
Đây là hoạt động nhập khẩu hàng hoá dựa trên cơ sở thảo thuận liên kết giữa các 
doanh nghiệp nhằm phối hợp cùng nhau tiến hành giao dịch và đưa ra phương 
hướng tối ưu để thúc đẩy hoạt động này theo hướng có lợi nhất cho cả hai bên, do 
đó cả hai sẽ cùng hưởng lợi nhuận và cùng chịu rủi ro. Nhập khẩu liên doanh 
thường được tiến hành khi cả hai bên cùng góp vốn.
Ưu điểm của hình thức nhập khẩu liên doanh là so với nhập khẩu tự doanh, các 
doanh nghiệp chịu ít rủi ro hơn bởi mỗi doanh nghiệp tham gia nhập khẩu liên 
doanh chỉ phải góp một phần vốn nhất định, quyền hạn và trách nhiệm của mỗi bên 
cũng phân bổ theo số vốn góp.
Nhược điểm của hình thức nhập khẩu này là lợi nhuận bị chia sẻ, doanh nghiệp 
đứng ra nhập khẩu hàng được tính kim ngạch nhập khẩu, nhưng khi đưa hàng về 
tiêu thụ chỉ được tính doanh số trên số hàng tính theo tỷ lệ vốn góp và chịu thuế 
doanh thu trên doanh số đó. 
 1.1.2.5 Nhập khẩu tái xuất
Đây là hoạt động nhập khẩu hàng hoá vào trong nước nhưng không tiêu dùng nội 
địa mà để xuất khẩu sang nước thứ ba. Loại hàng nhập này không qua chế biến ở 
nước tái sản xuất. Chính vì thế mà doanh nghiệp tham gia nhập khẩu theo hình thức 
này sẽ không phải mất thuế nhập khẩu, họ sẽ được hoàn thuế sau khi kết thúc hoạt 
động.
Nhập khẩu tái xuất có những đặc điểm riêng, khác với các hình thức nhập khẩu 
khác đó là: 
Thứ nhất, doanh nghiệp nhập khẩu ở nước tái xuất phải tính toán chi phí, ghép mỗi 
bạn hàng xuất và bạn hàng nhập, bảo đảm sao cho có thể thu được số tiền lớn hơn 
tổng chi phí bỏ ra để tiến hành hoạt động này.
Thứ hai, doanh nghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp được tính cả kim ngạch xuất nhập 
khẩu, doanh số tính trên giá trị hàng xuất khẩu đó vẫn phải chịu thuế doanh thu.
Thứ ba, doanh nghiệp nước tái xuất phải lập hai bản hợp đồng, một hợp đồng xuất 
khẩu và một hợp đồng nhập khẩu và không phải chịu thuế xuất nhập khẩu về các 
hình thức kinh doanh.
Thứ tư, để bảo đảm thanh toán, hợp đồng tái xuất thường dùng thư tín dụng giáp 
lưng (Back to Back L/C).
 `1.1.3 Nội dung của hoạt động nhập khẩu
Giao dịch mua bán hàng hoá, dịch vụ ngoại thương được thực hiện trên phạm vi 
quốc tế, do đó nội dung của hoạt động kinh doanh nhập khẩu phức tạp hơn so với 
việc mua bán trao đổi hàng hoá, dịch vụ trong nước. Các nghiệp vụ chính của hoạt 
động nhập khẩu bao gồm:
1.1.3.1 Nghiên cứu thị trường nhập khẩu
Đối với các đơn vị kinh doanh quốc tế, việc nghiên cứu thị trường nước ngoài có ý 
nghĩa hết sức quan trọng, giúp cho công tác nhập khẩu có đầy đủ thông tin cần thiết 
để từ đó đưa ra những quyết định chính xác về thị trường nhập khẩu.
Những nội dung cần nắm vững về thị trường nước ngoài gồm: Tình hình kinh tế - 
chính trị, luật pháp và chính sách thương mại quốc tế, tỷ giá hối đoái, điều kiện vận 
tải và tình hình giá cước... Đây là những nét khái quát cơ bản để đánh giá tình hình 
kinh tế - xã hội của nước đối tác. Bên cạnh những điểm này, đơn vị kinh doanh xuất 
nhập khẩu phải thực hiện các bước sau:
- Nghiên cứu mặt hàng nhập khẩu
- Nghiên cứu dung lượng thị trường và các yếu tố ảnh hưởng 
- Nghiên cứu giá cả hàng hoá và sự biến động của giá cả trên thị 
trường thế giới
- Lựa chọn bạn hàng 
- Lựa chọn mặt hàng nhập khẩu
1.1.3.2. Lựa chọn phương thức giao dịch
 a. Giao dịch thông thường
Giao dịch thông thường là một trong những phương thức buôn bán phổ biến nhất, 
thường thấy nhất, nó có thể diễn ra ở mọi nơi, mọi lúc trên cơ sở tự nguyện của các 
bên.
Giao dịch thông thường có thể là giao dịch trực tiếp giữa bên mua với bên bán, cũng 
có thể là giao dịch thông qua thương nhân trung gian.
a1. Giao dịch thông thường trực tiếp
Bên mua và bên bán trực tiếp giao dịch với nhau, việc mua và việc bán không ràng 
buộc nhau. Bên mua có thể chỉ mua mà không bán, bên bán có thể chỉ bán mà 
không mua.
Các bước tiến hành giao dịch gồm:
- Hỏi giá: Đây là việc người mua đề nghị người bán báo cho mình biết giá cả và các 
điều kiện để mua hàng. Nội dung của một hỏi giá gồm: tên hàng, quy cách, phẩm 
chất, số lượng, thời gian giao hàng, giá cả, loại tiền, thể thức thanh toán, điều kiện 
cơ sở giao hàng...
- Chào hàng: Là đề nghị của một bên về các điều kiện của hợp đồng. Có 2 loại chào 
hàng: chào hàng cố định (là việc chào bán một lô hàng nhất định cho một người 
mua, có nêu rõ thời gian mà người chào hàng bị ràng buộc trách nhiệm vào lời đề 
nghị của mình); chào hàng cố định (là loại chào hàng không ràng buộc trách nhiệm 
người phát ra nó).
- Đặt hàng: Là lời đề nghị ký kết hợp đồng xuất phát từ phía người mua được đưa ra 
dưới hình thức đặt hàng.
- Hoàn giá: Là mặc cả về giá cả hoặc về các điều kiện giao dịch.
- Chấp nhận: Là sự đồng ý hoàn toàn tất cả mọi điều kiện của chào hàng (hoặc đặt 
hàng) mà phía bên kia đưa ra. Khi đó hợp đồng được giao kết.
- Xác nhận: Hai bên mua và bán, sau khi đã thống nhất thoả thuận với nhau về điều 
kiện giao dịch, xác nhận lại các điều kiện giao dịch gửi cho bên đối tác. 
 a2. Giao dịch qua trung gian
Giao dịch qua trung gian là việc người mua hoặc người bán quy định những điều 
kiện trong giao dịch mua bán về hàng hoá, giá cả, điều kiện giao dịch, phương thức 
thanh toán phải qua một người thứ ba để đàm phán và đi đến ký kết hợp đồng - 
người trung gian buôn bán.
Người trung gian buôn bán phổ biến trên thị trường là đại lý và môi giới. 
 b. Buôn bán đối lưu: 
Buôn bán đối lưu là phương thức giao dịch trao đổi hàng hoá, trong đó xuất khẩu 
kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, người bán đồng thời là người mua, lượng hàng giao 
đi có giá trị tương xứng với lượng hàng nhận về.
Có 7 hình thức buôn bán đối lưu cơ bản:
- Hàng đổi hàng: Là hình thức mua bán đối lưu mà các bên trao đổi hàng hoá với 
nhau, hàng hoá giao đi và hàng hoá nhận về có số lượng và giá trị tương đương, 
hoạt động trao đổi diễn ra đồng thời và không sử dụng tiền tệ làm phương tiện thanh 
toán.
- Mua bán bù trừ: Là phương thức mua bán đối lưu mà các bên trao đổi hàng hoá 
với nhau, một bên giao hàng với giá trị hàng hoá và nhận về tương đương với lượng 
hàng giao xong, có sử dụng tiền tệ làm phương tiện thanh toán bù trừ.
- Mua đối lưu: Là phương thức mua bán đối lưu mà một bên giao hàng đi với cam 
kết sẽ mua lại một mặt hàng nào đó đã xác định trong tương lai.
- Mua bồi hoàn: Là phương thức mua bán đối lưu mà một bên giao hàng đi với cam 
kết mua một loại hàng nào đó không xác định trong tương lai nhằm bồi hoàn toàn 
bộ giá trị ngoại tệ cho bên kia.
- Chuyển nợ: Là hình thức mua bán đối lưu mà một bên chuyển cho bên thứ ba cam 
kết thực hiện nhiệm vụ và trách nhiệm của mình đối với bên kia trong quan hệ trao 
đổi hàng với hàng.
- Mua bán bình hành: Là một phương thức mua bán đối lưu mà người tham gia lựa 
chọn một trung gian đại diện cho mình theo dõi và quyết toán sau những kỳ kinh 
doanh nhất định để thanh toán theo hình thức bình hành.

File đính kèm:

  • docluan_van_giai_phap_nang_cao_hieu_qua_hoat_dong_kinh_doanh_nh.doc