Đề tài Sự di chuyển lao động từ khu vực công sang khu vực tư ở Việt Nam

Trong thời đại hiện nay, khi mà hầu hết các nước trên thế giới đang hướng đến một nền kinh tế năng động và phát triển, nền kinh tế đa thành phần đang là một ưu thế. Ở nền kinh tế đa thành phần đó luôn tồn tại hai khu vực: “khu vực kinh tế Nhà nước”( khu vực công) và khu vực kinh tế Tư nhân( khu vực tư). Trong đó, kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ lực và kinh tế tư nhân là động lực phát triển của nền kinh tế. Hai khu vực kinh tế này chính là hai nhân tố chính đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế, cũng như chiếm một tỉ trọng rất cao trong GDP và trong việc

Và bao giờ cũng vậy, để phát triển kinh tế thì không thể không nói đến yếu tố “nguồn lao động”. Rõ ràng, đây là một yếu tố có ảnh hưởng rất lớn. Nếu nguồn lao động có chất lượng cao thì quá trình phát triển kinh tế cũng sẽ thuận lợi và dễ dàng hơn. Tuy nhiên, một thực tế đang trở thành vấn nạn hiện nay đó chính là sự di chuyển của các nguồn lao động, đặc biệt là nguồn lao động có chất lượng ( lực lượng tri thức).

Ở phạm vi trong nước, đó chính là sự di chuyển của lực lượng lao động từ khu vực này sang khu vực khác, hay từ ngành này sang ngành khác. Nổi bật nhất vẫn là sự di chuyển của các nguồn lực lao động từ khu vực công ( khu vực kinh tế nhà nước) sang khu vực tư (khu vực kinh tế tư nhân) hoặc ngược lại.

Có thể hiểu vấn đề trên là một hệ quả tự nhiên của sự phát triển. Tất cả chúng ta bao gồm cán bộ công nhân viên chức đều muốn có một cuộc sống tốt đẹp hơn, được phát triển, đóng góp nhiều cho xã hội, vì vậy ở đây không có gì là sai khi họ rời khỏi nhà nước để tạo điều kiện sống tốt hơn cho mình. Nhưng nếu việc làm này ngày càng phổ biến, đội ngũ cán bộ công chức hoạt động trong Nhà nước có nguy cơ bị thiếu hụt hay không đảm bào chất lượng thì nó sẽ trở thành một vấn đề lớn cần được quan tâm một cách nghiêm túc. Vì vậy chúng ta phải tự hỏi: tại sao họ lại chuyển từ khu vực công sang khu vực tư ? Những yếu tố nào đã tác động đến họ? Đặc biệt, hiện tượng này có những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực như thế nào đối với quá trình phát triển kinh tế của các nước đang tồn tài vấn nạn này? Để từ đó xem xét xem có giải pháp và chính sách Thư viện Sách, Mỗi Ngày Một Cuốn Sách nào để có thể hạn chế hiện tượng này? Để có câu trả lời, tôi đã tìm hiểu, nghiên cứu thực hiện đề tài: “ Sự di chuyển lao động từ khu vực công sang khu vực tư ở Việt Nam”

doc 52 trang Minh Tâm 28/03/2025 120
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Đề tài Sự di chuyển lao động từ khu vực công sang khu vực tư ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Đề tài Sự di chuyển lao động từ khu vực công sang khu vực tư ở Việt Nam

Đề tài Sự di chuyển lao động từ khu vực công sang khu vực tư ở Việt Nam
 GV:Nguyễn Ngọc Tuấn
 Trang 1
 PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn chủ đề
 Trong thời đại hiện nay, khi mà hầu hết các nước trên thế giới đang hướng đến 
một nền kinh tế năng động và phát triển, nền kinh tế đa thành phần đang là một ưu thế. Ở 
nền kinh tế đa thành phần đó luôn tồn tại hai khu vực: “khu vực kinh tế Nhà nước”( khu 
vực công) và khu vực kinh tế Tư nhân( khu vực tư). Trong đó, kinh tế nhà nước đóng vai 
trò chủ lực và kinh tế tư nhân là động lực phát triển của nền kinh tế. Hai khu vực kinh tế 
này chính là hai nhân tố chính đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế, cũng như chiếm một 
tỉ trọng rất cao trong GDP và trong việc 
 Và bao giờ cũng vậy, để phát triển kinh tế thì không thể không nói đến yếu tố 
“nguồn lao động”. Rõ ràng, đây là một yếu tố có ảnh hưởng rất lớn. Nếu nguồn lao động 
có chất lượng cao thì quá trình phát triển kinh tế cũng sẽ thuận lợi và dễ dàng hơn. Tuy 
nhiên, một thực tế đang trở thành vấn nạn hiện nay đó chính là sự di chuyển của các 
nguồn lao động, đặc biệt là nguồn lao động có chất lượng ( lực lượng tri thức).
 Ở phạm vi trong nước, đó chính là sự di chuyển của lực lượng lao động từ khu 
vực này sang khu vực khác, hay từ ngành này sang ngành khác. Nổi bật nhất vẫn là sự di 
chuyển của các nguồn lực lao động từ khu vực công ( khu vực kinh tế nhà nước) sang 
khu vực tư ( khu vực kinh tế tư nhân) hoặc ngược lại. 
 Có thể hiểu vấn đề trên là một hệ quả tự nhiên của sự phát triển. Tất cả chúng ta 
bao gồm cán bộ công nhân viên chức đều muốn có một cuộc sống tốt đẹp hơn, được phát 
triển, đóng góp nhiều cho xã hội, vì vậy ở đây không có gì là sai khi họ rời khỏi nhà nước 
để tạo điều kiện sống tốt hơn cho mình. Nhưng nếu việc làm này ngày càng phổ biến, đội 
ngũ cán bộ công chức hoạt động trong Nhà nước có nguy cơ bị thiếu hụt hay không đảm 
bào chất lượng thì nó sẽ trở thành một vấn đề lớn cần được quan tâm một cách nghiêm 
túc. Vì vậy chúng ta phải tự hỏi: tại sao họ lại chuyển từ khu vực công sang khu vực tư ? 
Những yếu tố nào đã tác động đến họ? Đặc biệt, hiện tượng này có những ảnh hưởng tích 
cực và tiêu cực như thế nào đối với quá trình phát triển kinh tế của các nước đang tồn tài GV:Nguyễn Ngọc Tuấn
 Trang 2
vấn nạn này? Để từ đó xem xét xem có giải pháp và chính sách nào để có thể hạn chế 
hiện tượng này? Để có câu trả lời, tôi đã tìm hiểu, nghiên cứu thực hiện đề tài: “ Sự di 
chuyển lao động từ khu vực công sang khu vực tư ở Việt Nam” .
2. Mục tiêu nghiên cứu 
 Mục tiêu nghiên cứu của bài tiểu luận nhằm hiểu một cách sâu sắc hơn các vấn 
đề cụ thể như sau:
 ❖ Cơ sở lý luận chung và thực trạng của thị trường lao động trong nước
 ❖ Phân biệt giữa khu vực Nhà nước và khu vực ngoài Nhà nước trong nền 
kinh tế. 
 ❖ Thực trạng dao động cung cầu giữa các khu vực kinh tế, cũng như những 
tác động do sự di chuyển từ khu vực Nhà nước sang các khu vực ngoài.
 Trên cơ sở đó đưa ra một số ý kiến đóng góp về hạn chế sự di chuyển lao động 
từ khu vực công sang khu vực tư, đảm bảo cân đối giữa các khu vực kinh tế.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 
 Đối tượng nghiên cứu của bài tiểu luận là thực trạng tình hình di chuyển lao 
động từ khu vực Nhà nước sang các khu vực khác và những tác động do sự dao động trên 
đối với nền kinh tế chung. 
 Phạm vi nghiên cứu: đi sâu vào thực trạng cụ thể tại địa bàn thành phố Hồ Chí 
Minh
4. Phương pháp nghiên cứu
 Trong quá trình nghiên cứu đề tài tôi có sử dụng kiến thức thông qua việc nghiên 
cứu các loại tài liệu, nghiên cứu bằng các phương pháp như: phương pháp trao đổi trực 
tiếp, phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp và phương pháp phân tích số liệu.
5. Nguồn số liệu
 Nguồn số liệu được thu thập dựa trên :
 • Báo cáo thường niên của Bộ Lao Động, Thương Binh-Xã hội về số lao 
động di chuyển giữa các khu vực kinh tế. GV:Nguyễn Ngọc Tuấn
 Trang 3
 • Nguồn ADB do Bộ Tài Chính cung cấp về mức thu nhập giữa các khu vực 
kinh tế.
 • Các số liệu khác thu thập trên các website có liên quan.
6. Kết cấu
 Với đề tài nghiên cứu cụ thể về sự di chuyển lao động giữa khu vực Nhà nước 
sang các khu vực ngoài, đồng thời trong phạm vi nghiên cứu học tập nên bài tiểu luận gói 
gọn trong phần nội dung gồm 3 chương:
 ❖ Chương 1: Cơ sở lý luận chung.
 ❖ Chương 2: Thực trạng sự di chuyển lao động từ khu vực Nhà nước sang các 
khu vực Tư nhân.
 ❖ Chương 3: Giải pháp nhằm hạn chế sự di chuyển lao động từ khu vực Nhà 
nước sang các khu vực khác. GV:Nguyễn Ngọc Tuấn
 Trang 4
 PHẦN NỘI DUNG
 CHƯƠNG I
 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG
 
1. Một số khái niệm
 1.1. Khu vực Nhà nước (Khu vực công)
 Khu vực Nhà nước được xem là một khái niệm quan trọng trong các học thuyết 
kinh tế-chính trị. 
 Xét ở góc độ kinh tế thì khu vực Nhà nước là một bộ phận quan trọng trong nền 
kinh tế thị trường. Nó bao gồm các bộ phận sản xuất và phân phối được tài trợ bởi các cơ 
quan Nhà nước.
 Xét ở góc độ chính trị thì khái niệm “công” thường liên quan đến các hoạt động 
hoặc các đặc điểm của Nhà nước nói chung, đặc biệt là Chính phủ. Xét theo nghĩa này thì 
khu vực Nhà nước bao gồm chính quyền Trung Ương, chính quyền địa phương và các 
doanh nghiệp Nhà nước.
 Tóm lại, có thể nói khu vực Nhà nước là tổng thể các tổ chức kinh tế, văn hóa, 
xã hội, an ninh, quốc phòng thuộc sở hữu Nhà nước do Nhà nước đầu tư, cấp phát tài 
chính toàn bộ hay bộ phận quan trọng nhất, do Nhà nước trực tiếp quản lý, tổ chức nhằm 
tạo ra những sản phẩm vật chất-tinh thần, những dịch vụ công cộng phục vụ đời sống 
nhân dân và lợi ích toàn xã hội .
 1.2. Khu vực ngoài Nhà nước (Khu vực tư)
 Khu vực ngoài Nhà nước bao gồm tất cả các nhà cung cấp, các công ty, dịch vụ 
đã tồn tại ở bên ngoài khu vực Nhà nước. Hiện nay, kinh tế tư nhân được hiểu là một 
nhóm các thành phần kinh tế, bao gồm cơ sở sản xuất, hộ nông nhân cá thể và tiểu chủ, 
hộ sản xuất kinh doanh dịch vụ, thương mại ở thành thị; doanh nghiệp tu nhân. GV:Nguyễn Ngọc Tuấn
 Trang 5
 Kinh tế tư nhân dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, là bộ phận hợp thành 
hữu cơ quan trọng của nền kinh tế của các quốc gia và ngày càng tỏ rõ sự năng động cũng 
như tính hiệu quả của nó trong nền kinh tế thị trường.
 Ba hình thức tham gia của khu vực tư nhân tồn tại đó là : cho lợi nhuận, không 
phải cho lợi nhuận và doanh nghiệp xã hội. 
 Trong quá trình phát triển kinh tế đất nước, khu vực kinh tế tư nhân không thể 
tránh khỏi những hạn chế nhất định. Quá trình phát triển đa dạng các thành phần kinh tế 
ngày càng được mở rộng thì tất yếu nó sẽ gây ra một số trở ngại nếu như nền kinh tế 
không được kiểm soát một cách chặt chẽ. Tuy nhiên, không thể vì thế mà chúng ta phủ 
nhận vai trò không kém phần quan trọng của khu vực kinh tế này.
2. Các tiêu chí phân biệt khu vực Nhà nước và khu vực tư nhân
 Có 3 tiêu chí phân biệt giữa hai khu vực Nhà nước và khu vực tư nhân:
 ❖ Chế độ sở hữu
 ❖ Mục đích hoạt động
 ❖ Nguồn vốn
 ❖ Chế độ quản lý
 STT Tiêu chí Khu vực kinh tế Nhà nước Khu vực kinh tế tư nhân
 1 Chế độ sở hữu Sở hữu toàn dân do Nhà Sở hữu tư nhân
 nước đại diện 
 2 Mục đích hoạt Vì lợi ích toàn dân Vì lợi nhuận của chính 
 động doanh nghiệp, tổ chức, cá 
 nhân, hộ gia đình 
 3 Nguồn vốn Thuế, ngân sách Nhà nước Từ nguồn vay, tích lũy tự 
 có 
 4 Chế độ quản lý Chế độ công quản, mệnh Tự quản lý, điều hành trực 
 lệnh hành chính tiếp hoặc gián tiếp GV:Nguyễn Ngọc Tuấn
 Trang 6
 Khu vực Nhà nước bao gồm : Các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực 
sản xuất, khinh doanh và dịch vụ, hay doanh nghiệp công tư hợp doanh với người nước 
ngoài ; các tổ chức tài chính tín dụng công đặc biệt là ngân sách Nhà nước và các Ngân 
hàng Nhà nước; các tổ chức, cơ quan làm công tác liên quan đến tài nguyên đất nước, 
khoáng sản, kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội; các cơ sở văn hóa-xã hội công; hệ thống về tổ 
chức các hoạt động của bộ máy Nhà nước 
 Khu vực kinh tế tư nhân chính thức và không chính thức bao gồm : Các tổ chức, 
tổng công ty, các cá nhân cung cấp dịch vụ; các hiệp hội chuyên nghiệp, bên cạnh đó còn 
có quốc gia và các tổ chức phi chính phủ quốc tế và một số tổ chức từ thiện 
 Trong nền kinh tế của một quốc gia, bên cạnh khu vực kinh tế Nhà nước thì khu 
vực kinh tế tư nhân là một thành phần không thể thiếu được. Cả hai khu vực kinh tế đều 
là hai cánh tay đắc lực, hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình đưa nền kinh tế đất nước đi lên.
3. Các lý thuyết về di chuyển nguồn nhân lực 
 3.1. Mô hình Lewis
 Theo mô hình của Lewis, nền kinh tế được chia thành hai khu vực đối lập nhau 
là nông nghiệp (khu vực truyền thống) và công nghiệp (khu vực hiện đại) và ông chủ yếu 
nghiên cứu quá trình di chuyển lao động giữa hai khu vực trên. Trong đó, khu vực nông 
nghiệp là khu vực lạc hậu, dư thừa lao động, có năng suất biên bằng không còn khu vực 
công nghiệp lại thiếu lao động. Vì vậy, khu vực công nghiệp phải lôi kéo lao động từ 
nông thôn bằng cách trả mức lương cao hơn mà theo Lewis thì mức tiền lương phải trả 
cao hơn khoảng 30% so với mức tiền lương tối thiểu. Việc lao động từ khu vực nông 
nghiệp chuyển sang khu vực công nghiệp không làm giảm tổng sản phẩm nông nghiệp.
 Mô hình hai khu vực của Lewis cho thấy, mức chênh lệch tiền lương thực tế là 
nguyên nhân dẫn đến sự dịch chuyển lao động giữa hai khu vưc và nhu cầu thu hút lao 
động lao động của khu vưc công nghiệp là theo khả năng tích lũy vốn của khu vực này.
 3.2. Mô hình Haris-Todaro
 Đây là mô hình đầu tiên giải thích tại sao tình trạng thất nghiệp lại tồn tại ở các 
nước đang phát triển và tại sao người dân từ nông thôn vẫn chuyển tới thành thị dù thất GV:Nguyễn Ngọc Tuấn
 Trang 7
nghiệp ở thành thị vẫn cao. Giả định chính của mô hình là dân di cư tiềm năng là những 
người ra quyết định hợp lẽ và phản ứng theo những động cơ kinh tế. Họ quyết định di cư 
do sự khác biêt về tiền lương giữa nông thôn và thành thị. Khả năng tìm được việc làm ở 
thành thị cũng liên quan trực tiếp đến tỷ lệ việc làm ở thành thị. Như vậy, vấn đề di cư ra 
thành thị có thể mang lại lợi ích cá nhân cho người nhập cư. Nếu mức thu nhập của họ 
lớn hơn thu nhập thực tế ở nông thôn thì họ vẫn di cư dù cho ở thành thị đang tồn tại tỷ lệ 
thất nghiệp cao. Xác suất tìm được việc ở thành thị tỷ lệ nghịch với tỷ lệ thất nghiệp ở 
thành thị. Lý thuyết di dân của Harris- Todaro còn cho rằng khi chênh lệch giữa hai khu 
vực này tương đối lớn thì tỷ lệ di dân sẽ vượt quá tốc độ tăng trưởng việc làm ở thành thị.
 3.3. Lý thuyết “mới” về di dân
 Katz và Start (1986) giải thích quá trình di dân như là một phương thức để giảm 
thiểu rủi ro. Tại các nước đang phát triển có sự chênh lệch lớn ở nông thôn so với thành 
thị, đặc biệt là thị trường vốn, do đó người dân muốn di cư ra thành thị để giảm thiểu 
những rủi ro do sự yếu kém của nông thôn mang lại.
 Hai ông đưa ra khái niệm “sự thua thiệt tương đối” để phân tích hiện tượng di 
dân ở các nước đang phát triển. Một người có động cơ mạnh mẽ khi di cư từ nơi này sang 
nơi khác sẽ nhận thấy sự thua thiệt tương đối giảm xuống và mức độ hài lòng về nơi ở 
mới tăng lên. Động cơ sẽ không lớn nếu sự hài lòng và thua thiệt tăng lên hay giảm 
xuống cùng mức. Di dân cũng là một cách đa dạng hóa rủi ro. Khi mức thu nhập ở các 
vùng là khác nhau, một gia đình có thể giảm tổng rủi ro bằng cách gửi một thành viên 
đến một nơi khác.
4. Di chuyển lao động trên thị trường lao động Việt Nam
 4.1. Các yếu tố tác động đến việc di chuyển nguồn nhân lực
 Hoạt động của cung cầu lao động trên thị trường lao động thúc đẩy di chuyển lao 
động, làm thay đổi cung cầu lao động trên các loại thị trường khác nhau. Các dòng di 
chuyển lao động trên thị trường có tính quy luật, chịu sự tác động của nhiều yếu tố như: GV:Nguyễn Ngọc Tuấn
 Trang 8
 • Môi trường làm việc: ở đâu môi trường làm việc tốt, thoải mái, giá trị lao 
động cao, phù hợp với năng lực và trình độ của mình thì ở đó thu hút lực lượng lao động 
tới.
 • Nhân tố việc làm: nơi nào kiếm được việc làm dễ dàng thì chắc chắn lực 
lượng lao động sẽ tập trung cao hơn.
 • Khả năng phát triển trong tương lai: Nơi nào bảo đảm cho người lao động 
có khả năng thăng tiến dễ dàng hơn, thuận lợi cho cuộc sống trong tương lai thì có luồng 
di chuyển nhân lực đến.
 • Thu nhập: Nơi nào cáo mức lương và thu nhập cao, đảm bảo cho cuộc 
sống thì lao động tập trung cao.
 • Điều kiện tự nhiên: Là những nơi có điều kiện khí hậu thuận lợi, nguồn 
nước, cơ sở hạ tầng, giao thông đi lại thuận tiện 
 • Phong tục tập quán-sự quản lý của địa phương: Nơi có sự quản lý dễ dãi, 
phong tục tập quán thân thiện với người từ nơi khác đến cũng là một trong những yếu tố 
thu hút dòng di chuyển đến đây nhiều.
 • Nguyên nhân chủ quan xuất phát từ 2 phía doanh nghiệp và người lao 
động:
 ✓ Doanh nghiệp: Doanh nghiệp có môi trường làm việc thoải mái, thân 
 thiện, được sự quan tâm, chú ý nhiều từ cấp trên thì chắc chắn cũng sẽ thu 
 hút một lượng lao động đến đây.
 ✓ Người lao động: vì một số lý do cá nhân, gia đình hoặc sở thích nên di 
 chuyển đến nơi khác làm việc.
 4.2. Các dòng di chuyển cơ bản trên thị trường lao động trong nước
 4.2.1. Dòng di chuyển lao động nông thôn đi xây dựng kinh tế mới
 Trước những năm 90, dòng di chuyển dân cư và lao động lớn nhất là dòng di 
chuyển theo các chương trình của Chính Phủ đi xây dựng vùng kinh tế mới ở miền núi, 
hải đảo, nhằm giảm bớt áp lực dân số và lao động ở các vùng đồng bằng đông dân ít đất. 
Di dân và lao động khai hoang phát triển nông nghiệp, hình thành các điểm kinh tế mới, GV:Nguyễn Ngọc Tuấn
 Trang 9
nhằm khai thác hiệu quả hơn nguồn lao động xã hội và các tiềm năng thiên nhiên của đất 
nước, gắn với củng cố và bảo vệ an ninh quốc phòng.
 Dòng di chuyển này chịu tác động chủ yếu từ các chính sách, kế hoạch của 
Chính Phủ, di chuyển lao động không phải do tác động của quy luật cung cầu lao động 
trên thị trường. Vì vậy, hiệu quả chung của di chuyển cung lao động và điều tiết cung-cầu 
lao động giữa các vùng, các địa phương còn thấp.
 4.2.2. Dòng di chuyển lao động nông thôn đến thành thị
 Trước đổi mới (1986), dòng di chuyển lao động nông thôn đến thành thị bị hạn 
chế và số lượng không đáng kể. Những năm sau 1986, các chính sách cải cách khu vực 
nông nghiệp, xóa bỏ chế độ bao cấp trong phân phối, tiền tệ hóa tiền lương, tốc độ đô thị 
hóa được đẩy nhanh, cải cách chế độ hộ khẩu đã có tác dụng thúc đẩy dòng di chuyển 
từ nông thôn nhập cư vào các thành phố làm việc.
 Dòng di chuyển nông thôn đến thành thị mang tính quy luật, do sự chi phối của 
quy luật cung cầu lao động trên thị trường lao động. Dòng di chuyển này có xu hướng 
phát triển nhanh trong tương lai, đặc biệt ở địa bàn đang đẩy nhanh quá trình đô thị hóa, 
công nghiệp hóa.
 4.2.3. Dòng di chuyển Bắc-Nam
 Dòng di chuyển lao động từ miền Bắc vào miền Nam và từ miền Nam ra miền 
Bắc khá phát triển từ 1991 trở lại đây. Nguyên nhân thúc đẩy dòng di chuyển này do: 
mức tiền lương, thu nhập ở miền Nam cao hơn; tập trung các khu công nghiệp, khu chế 
xuất tại miền Nam nhiều hơn; đối với miền Bắc thì phát triển một số ngành nghề mới nên 
cũng thu hút một lượng lao động miền Nam ra làm việc.
 Di chuyển lao động Bắc-Nam là hiện tượng có tính quy luật, do quan hệ cung 
cầu trên thị trường lao động quyết định. Quy mô và mức độ sôi động của dòng di chuyển 
lao động này phản ánh mức độ phát triển và năng động của thị trường lao động. GV:Nguyễn Ngọc Tuấn
 Trang 10
 4.2.4. Dòng di chuyển lao động từ khu vực kinh tế Nhà nước sang khu vực kinh 
tế khác.
 Dòng di chuyển lao động từ khu vực Nhà nước sang các khu vực kinh tế khác 
diễn ra khá sôi động, bắt đầu trong những năm 1990-1996. Trong đó dòng di chuyển với 
quy mô lớn hơn là sang khu vực kinh tế tư nhân và khu vực kinh tế có nguồn vốn đầu tư 
nước ngoài. 
 Từ 1986 trở lại đây, dòng di chuyển này có cường độ thấp hơn do quy mô lao 
động trong khu vực Nhà nước thu hẹp và bộ phận lao động làm việc trong khu vực kinh 
tế Nhà nước nâng cao được tiền lương, thu nhập do các doanh nghiệp Nhà nước thích 
ứng dần với môi trường kinh doanh cơ chế thị trường, nâng cao được hiệu quả hoạt động.

File đính kèm:

  • docde_tai_su_di_chuyen_lao_dong_tu_khu_vuc_cong_sang_khu_vuc_tu.doc